PHẪN 3 - ĐIẼU TRỊ MỠT sõBỆNH TIM MẠCH THƯŨNGGẶP
A. BỆNH TIM MẠCH VÀNH
1. TìmhiểuChungvềbệnh tim mạchvành
Bệnh tim mạch vành tên gọi cho một số bệnh
tim
do
mạch
máu vành
tim bị nghẽn
đưa đến
tình
trạng tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của
bệnh này bệnh mạch vành, bệnh dộng mạch vành,
bệnh tim do vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu
cục bộ - động mạch cấp máu nuôi dưỡng tim bị hẹp
nên lượng máu cung cấp cho tim bị giảm sút.
Nguyên nhân chủ yếu của hẹp động mạch vành
do vữa động mạch.
Bệnh tim mạch vành gặp người tiền sử gia
đình mắc bệnh tim mạch sớm (trước 55 tuổi), người
hút thuốc lá, người mắc bệnh cao huyết áp, mỡ máu
cao, đái tháo đường. Béo phì, ít hoạt động thể lực
stress
cũng
đóng
vai
trò
quan
trọng
trong
sự tiến
triển
của
vữa
động
mạch.
Nguy
mắc
bệnh
mạch
vành
tăng
theo
tuổi,
nguy
nữ gia
tăng
đáng kể độ tuổi 5 đến 10 năm sau khi mãn kinh
75
nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới.
2.Triệuchứngcủabệnh
Bệnh
mạch
vành
triệu
chứng
thường
gặp
nhất đau thắt ngực. Đa số trường hỢp, các triệu
chứng
không
được
để
ý
cho
đến
khi
động
mạch
vành bị hẹp nhiều, đến mức độ đáng kể. Nhiều khi
bệnh mạch vành chỉ được biết đến khi đã xuất hiện
biến chứng, nhồi máu tim.
3. Chuẩndoán
Bệnh
mạch
vành
không triệu chứng rệt,
thể
chẩn
đoán
bằng
phương
pháp
xét
nghiệm
dương tính với nghiệm pháp gắng sức (gắng sức thể
lực khi chạy, đạp xe đạp lực kế hay dùng thuốc,
qua theo dõi các biến đổi trên điện tâm đồ, siêu âm
tim hoặc kết hỢp với xạ hình tưới máu tim) hoặc
chụp động mạch vành thấy hẹp. Một khi đã biểu
hiện
đau thắt ngực khi gắng sức, bệnh
mạch vành
cần được theo dõi điều trị hết sức chặt chẽ. cần
làm các xét nghiệm để xác định chẩn đoán đánh
giá mức
độ
nặng
nhẹ
của bệnh
cũng
như của các
yếu tố nguy các yếu tố làm tăng nặng bệnh.
4.Điểutrị bệnh
Điều
trị bệnh
mạch phải
được các bác sỹ theo
dõi
thường
xuyên
điều
chỉnh
kịp
thời.
Điều
76
chỉnh lối sống, dùng thuốc: aspirin, thuốc hạ huyết
áp, thuốc hạ cholesterol máu, thuốc chẹn thụ thể
ta giao cảm, các dẫn xuất
nitroglycerin, thuốc chẹn
kênh calci; can thiệp động mạch vành qua da (nong
bằng bóng đặt
giá đỡ) và/ hoặc mổ bắc cầu nối
động mạch vành.
4.1.
Các phương pháp
điều trị bệnh động mạch
vành
4.1.1. Điều trị nội khoa
Điều
trị
bằng
thuốc,
thể
dùng
một
hoặc
nhiều
loại
thuốc
kết
hỢp với
nhau.
Phương
pháp
này làm
giảm
được triệu chứng
nhưng
không giải
quyết
được
nguyên
nhân
hẹp
lòng
động
mạch
vành.
4.1.2. Điều trị ngoại khoa
Phẫu
thuật
làm
cầu
nối
chủ
- vành.
Vùng
tim
bị
thiếu
máu
sẽ
được
cung
cấp
máu
bởi
một
mạch
máu khác
vòng
qua chỗ
động
mạch vành
bị
hẹp hoặc tắc.
4.1.3. Tim mạch can thiệp
Can
thiệp
động
mạch
vành
qua
da phương
pháp
không
phải
phẫu thuật
nhưng vừa làm
giảm
triệu chứng vừa giải quyết đưỢc nguyên nhân hẹp
lòng động mạch vành.
77
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  

Ebook Bệnh tim mạch cách phòng và điều trị: Phần 2 - Bạch Minh, Khánh Hưng

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 3 | Lần xem: 52 | Page: 119 | FileSize: 0.00 M | File type: PDF
52 lần xem

Ebook Bệnh tim mạch cách phòng và điều trị: Phần 2 - Bạch Minh, Khánh Hưng. Cuốn sách Bệnh tim mạch cách phòng và điều trị sẽ cung cấp cho bạn đọc biết những thông tin cơ bản cũng như chuyên sâu về bệnh tim mạch. Đồng thời, sách cũng hướng dẫn bạn những cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh tim mạch phổ biến nhất. Tiếp nối phần 1, nội dung phần 2 của cuốn sách bao gồm: Những điều cần biết về bệnh tim mạch, các bệnh tim mạch thường gặp, cách phòng và điều trị và những vấn đề cần lưu ý đối với bệnh nhân tim mạch. Mời các bạn cùng tham khảo..

Nội dung

PHẪN 3 - ĐIẼU TRỊ MỠT sõBỆNH TIM MẠCH THƯŨNGGẶP A. BỆNH TIM MẠCH VÀNH 1. TìmhiểuChungvềbệnh tim mạchvành Bệnh tim mạch vành là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của bệnh này là bệnh mạch vành, bệnh dộng mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ - động mạch cấp máu nuôi dưỡng tim bị hẹp nên lượng máu cung cấp cho cơ tim bị giảm sút. Nguyên nhân chủ yếu của hẹp động mạch vành là do xơ vữa động mạch. Bệnh tim mạch vành gặp ở người có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (trước 55 tuổi), người hút thuốc lá, người mắc bệnh cao huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường. Béo phì, ít hoạt động thể lực và stress cũng đóng vai trò quan trọng trong sự tiến triển của xơ vữa động mạch. Nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng theo tuổi, nguy cơ ở nữ gia tăng đáng kể ở độ tuổi 5 đến 10 năm sau khi mãn kinh và 75 nữ giới mắc bệnh cao hơn ở nam giới. 2.Triệuchứngcủabệnh Bệnh mạch vành có triệu chứng thường gặp nhất là đau thắt ngực. Đa số trường hỢp, các triệu chứng không được để ý cho đến khi động mạch vành bị hẹp nhiều, đến mức độ đáng kể. Nhiều khi bệnh mạch vành chỉ được biết đến khi đã xuất hiện biến chứng, nhồi máu cơ tim. 3. Chuẩndoán Bệnh mạch vành không có triệu chứng rõ rệt, có thể chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm dương tính với nghiệm pháp gắng sức (gắng sức thể lực khi chạy, đạp xe đạp có lực kế hay dùng thuốc, qua theo dõi các biến đổi trên điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc kết hỢp với xạ hình tưới máu cơ tim) hoặc chụp động mạch vành thấy hẹp. Một khi đã có biểu hiện đau thắt ngực khi gắng sức, bệnh mạch vành cần được theo dõi và điều trị hết sức chặt chẽ. cần làm các xét nghiệm để xác định chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh cũng như của các yếu tố nguy cơ và các yếu tố làm tăng nặng bệnh. 4.Điểutrị bệnh Điều trị bệnh mạch phải được các bác sỹ theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời. Điều 76 chỉnh lối sống, dùng thuốc: aspirin, thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ cholesterol máu, thuốc chẹn thụ thể bê ta giao cảm, các dẫn xuất nitroglycerin, thuốc chẹn kênh calci; can thiệp động mạch vành qua da (nong bằng bóng và đặt giá đỡ) và/ hoặc mổ bắc cầu nối động mạch vành. 4.1. Các phương pháp điều trị bệnh động mạch vành 4.1.1. Điều trị nội khoa Điều trị bằng thuốc, có thể dùng một hoặc nhiều loại thuốc kết hỢp với nhau. Phương pháp này làm giảm được triệu chứng nhưng không giải quyết được nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành. 4.1.2. Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật làm cầu nối chủ - vành. Vùng cơ tim bị thiếu máu sẽ được cung cấp máu bởi một mạch máu khác vòng qua chỗ động mạch vành bị hẹp hoặc tắc. 4.1.3. Tim mạch can thiệp Can thiệp động mạch vành qua da là phương pháp không phải phẫu thuật nhưng vừa làm giảm triệu chứng vừa giải quyết đưỢc nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành. 77 Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp ngoại khoa hay tim mạch can thiệp thì việc sử dụng tiếp các thuốc là hết sức cần thiết để duy trì kết quả của các thủ thuật này. Bên cạnh đó cần phải thay đổi lối sống như; Không hút thuốc lá, luyện tập thể dục thường xuyên, đặc biệt là tập đi bộ; tránh căng thẳng quá mức, ăn nhạt, không ăn mỡ và các phủ tạng động vật, hạn chế ăn trứng, sữa, đồ ngọt; không uống quá nhiều rượu, bia. Và điều trị một số bệnh liên quan đến động mạch vành: Điều trị bệnh tiểu đường, thực hiện chế độ ăn giảm cân chống béo phì, điều trị rối loạn mỡ máu, điều trị bệnh huyết áp cao. 4.2. Điều trí suy mach vành Suy mạch vành (hay thiếu máu cơ tim hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim) đưỢc xác định khi tuần hoàn vành không đảm bảo cung cấp đầy đủ oxy theo nhu cầu chuyển hóa cơ tim. Việc điều trị nội khoa suy mạch vành phải nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề sau: - Làm giảm mức tiêu thụ oxy cho cơ tim. - Phân bổ lại máu có lợi cho vùng cơ tim bị thiếu oxy. - Tăng cung cấp oxy cho cơ tim. - Bảo vệ tế bào cơ tim bị thiếu máu. 78 4.2.1. Các thuốc làm giảm mức tiêu thụ oxy của cơtim - Các thuốc giảm tiền gánh gồm chủ yếu là các dẫn chất của nitrat (có hai loại nitrat chủ yếu: Tác dụng nhanh và tác dụng chậm, kéo dài, trong đó một số biệt dược được sử dụng chủ yếu như nitroglycerin viên ngậm dưới lưỡi hay lọ xịt hoặc miếng dán trước ngực; dạng viên như lenitral, nitromin, imdur...). Cơ chế tác động của các nitral có thể tóm tắt như sau: + Giảm nhu cầu oxy cơ tim do làm giãn tĩnh mạch ngoại vi là chính, dẫn đến giảm lượng máu trởvề tim nên giảm tiền gánh. Thuốc cũng làm giãn các tiểu động mạch dẫn đến giảm sức cản ngoại vi, giảm hậu gánh và như vậy làm giảm công của cơ tim. + Cải thiện tưới máu cơ tim do làm giãn động mạch vành, chống co thắt nhưng chỉ ở những động mạch chưa bị xơ cứng, phân bổ lại máu trong các lớp cơ tim có lợi cho lớp dưới nội tâm mạc, phát triển tuần hoàn bàng hệ. Các thuốc làm giảm hậu gánh, gồm các thuốc làm giãn tiểu động mạch, dẫn đến giảm sức cản ngoại vi do vậy giảm đưỢc công của tim nên giảm lượng tiêu thụ oxy của tế bào cơ tim. Gồm các thuốc như chẹn kênh calci, nitrat, ức chế cụ thể bê ta giao cảm... - Các thuốc làm giảm sức co bóp cơ của cơ tim, do vậy làm giảm mức tiêu thụ oxy của cơ tim: Như các 79 chất ức chế thụ thể bê ta giao cảm (một số thuốc như: propranolol, bisoprolol, metoprolol, atenolol...)? các thuốc chẹn kênh calci (verapamil, diltiazem). - Các thuốc làm giảm nhịp tim: Các chất ức chế thụ thể bê ta giao cảm, các thuốc chẹn kênh cali, amiodaron. 4.2.2. Các thuốc làm phân bổ lại máu có lợi cho vùng cơtim bị thiếu oxy Do trong các lớp cơ tim, lớp dưới nội tâm mạc (tức là lớp cơ nằm sát với buồng chứa máu của tim) bị áp lực của tim trực tiếp do vậy rất dễ bị thiếu máu so với lớp dưới ngoại tâm mạc (là lớp cơ ngoài cùng). Một số thuốc, đặc biệt là dẫn chất nitrat, các chất ức chế thụ thể bê ta giao cảm có tác dụng làm thay đổi sự phần phối máu giữa các cơ dưới nội và ngoại tâm mạc. Tạo điều kiện cho lớp dưới nội tâm mạc được ưu tiên phân phối máu nhiều hơn nhờ vào những cơ chế khác nhau. Do vậy làm cải thiện được tình trạng thiếu máu cơ tim ờ lớp dưới nội tâm mạc. 4.2.3. Các thuốc làm tăng cung cấp lượngoxy cho tim Tăng cung cấp oxy nghĩa là phải tăng cường lượng máu đến tế bào cơ tim hay nói cách khác làm tăng cung lượng máu của động mạnh vành. Đó chính là vai trò của các thuốc làm giãn động mạch vành. Khi động mạch vành giãn ra có thể sẽ xảy ra 80 hiện tượng vùng tế bào cơ tim lành, do động mạch vành còn tốt nên giãn nhiêu hơn gây nên hiện tượng “cướp máu” của vùng cơ tim bị thiếu máu làm vấn đề thiếu máu lại trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, những khuyến cáo gần đây nhất về điều trị bệnh thiếu máu cơ tim vẫn nêu lên tác dụng tốt của các thuốc giãn mạch vành, do vậy thuốc vẫn được chỉ định điều trị cho các bệnh nhân thiếu máu cơ tim. Nhóm thuốc này chủ yếu là các dẫn chất của nitrat, dipyridamol. 4.2.4. Các thuốc bảo vệ tế bào cơtim thiếu máu Thuốc này có tác dụng bảo về chức năng của ty lạp thể (là nơi cung cấp năng lượng cho tế bào cơ tim hoạt động) do vậy kéo dài đưỢc thời gian chịu đựng thiếu oxy của các tế bào cơ tim. Nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy nhóm thuốc này có tác dụng làm giảm số cơn đau thắt ngực và tăng khả năng gắng sức của bệnh nhân. Biệt dược được dùng rất phổ biến hiện nay là vastarel (hoạt chất trimetazidin). Ngày nay người ta ngày càng chú trọng đến vai trò của thành mạch và tiểu cầu trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng mạch vành cấp, một diễn biến cấp tính và nguy hiểm của bệnh suy mạch vành. Nguyên nhân là do sự gãy của mảng vữa xơ động mạch vành, giải phóng các yếu tố tăng đông, hoạt 81 hóa tiểu cầu và nhanh chóng hình thành cục máu đông gây nên tắc một phần hoặc hoàn toàn động mạch vành cấp tính. Chính vì vậy, trong điều trị suy mạch vành, không thể không nhắc đến hai nhóm thuốc; Các thuốc chống kết tập tiểu cầu và các thuốc có tác dụng làm ổn định hay thoái triển mảng vữa xơ động mạch. - Các thuốc chống kết tập tiểu cầu: Đại diện là aspirin và các dẫn chất của thienopyridin (biệt dược là plavix và ticlede), có tác dụng ngăn chặn không cho tiểu cầu dính vào làm tổn thương động mạch vành và kết dính với nhau, do vậy ngăn cản sự hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn động mạch vành. - Các nghiên cứu cho thấy dùng nhóm statin có thể giảm tiến triển xơ vữa động mạch ở mọi giai đoạn do làm giảm cholesterol xấu, phục hồi chức năng nội mạc, giảm biến cố thiếu máu cục bộ, ổn định mảng vữa xơ dễ vỡ và do đó làm giảm các biến cố tim mạch trên những bệnh nhân có bệnh động mạch vành. Đối với thuốc rosuvasiatin (biệt dược crestor), nghiên cứu còn cho thấy tác dụng giảm kích thước và thể tích mảng xơ vữa động mạch vành. 5. Biến chứng Biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất của bệnh mạch vành là nhồi máu cơ tim và đột tử. Các 82 biến cố này thường do sự hành thành cục máu đông làm lấp tắc động mạch vành đã bị hẹp từ trước do mảng xơ vữa ờ thành của động mạch vành. Các biến chứng khác bao gồm rối loạn nhịp tim và suy tim. 6. Cách phòng bệnh Những biện pháp điều chỉnh lối sống áp dụng điều trị cũng có ý nghĩa then chốt trong dự phòng hoặc giảm thiểu các tác hại của bệnh mạch vành. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý, tập luyện thể lực thường xuyên, kiểm soát huyết áp trong giới hạn bình thường, ăn ít chất béo và cholesterol, bỏ hoàn toàn hút thuốc lá và những biện pháp cơ bản trong phòng ngừa bệnh mạch vành. 6.1. Giảm mỡ máu (cholesterol) trong máu Sự liên quan giữa cholesterol máu với tỷ lệ bệnh tim do động mạch vành rất chặt chẽ. Các nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng cholesterol máu càng cao thì tỷ lệ đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim cũng càng cao. Hạ đưỢc cholesterol máu bằng sửa đổi cách ăn uống, hoặc bằng thuốc, thì cũng hạ được tỷ lệ xơ vữa động mạch. Muốn hạn chế cholesterol trong máu khỏi tăng cao, cần trước tiên chú ý đến cách ăn uống như sau: 6.1.1. Ản ít cholesterol Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới người 83 lớn không nên ăn quá 300 mg cholesterol mỗi ngày và tỷ lệ calo do có các chất béo mang lại nên dưới 30%. Đó là đối với người bình thường, chứ đối với người đã có một số nhân tố nguy cơ như nam giới, nhiều tuổi, gia đình có người bị xơ vữa động mạch... thì lượng cholesterol ăn vào còn cần hạn chế hơn nữa: 200mg, thậm chí 100 mg mỗi ngày. Lượng cholesterol trong mỗi lOOgthức ăn đưỢc thống kê như sau: Động vật LỢn Bò Bẽ Cừu Tính chất Thịt Sườn Mỡ Thịt lưng Thịt nạc Mỡ Bao tử bò Tim Gan Bầu dục Óc Sữa bò toàn phần Sữa gạn chất béo Bơ Pho mát Thịt bắp Thịt đùi Lách Gan Mỡ Gan Hàm lượng 60 105 126 215 60 125 150 145 320 400 2300 28 0-1 280 160 100 140 280 360 122 610 84 Thỏ rừng Gia cầm Thủy hải sản Thực phẩm từ thực vật Thịt Gà Thịt vịt Thịt gà tây ĩh jt bồ câu Trứng gà toàn phần Lòng đỏ Lòng trắng Cá tuyết Cá bơm Cá hồi Cua Tép Tôm hùm Sò Dầu gan cá Ngũ cốc Cà phê Trái cây Rau Dầu thực vật Margarin (làm từ dầu thực vật) 80 90 70 110 110 468 1400-2000 0 41 50 60 145 150 205 280-470 500 Chứa ít hoặc không có cholesterol - - 6.1.2. Hạn chế ăn những chất béo có nhiều acid béo bão hòa và ũ acid béo khôngbão hòa Những acid béo bão hòa làm tăng cholesterol "xấu" nghĩa là cholesterol trong lipoprotein nhẹ (LDL-C), còn các acid béo không bão hòa có tác dụng ngược lại. Hội Tim Mỹ khuyên tỷ lệ acid béo bão hòa (xấu) chỉ nên dưới 1/3 tổng calo do lipid; còn 2/3 kia 85 là acid béo không bão hòa (tốt). + Nên ăn các loại dầu vừng, dầu lạc, dầu cám, dầu ôliu, nhất là dầu đỗ tương và các loại mỡ trong cá. + Không nên ăn dầu cọ, mỡ bò, nhất là bơ. + Có thể ăn nhưng không nên ăn quá nhiều mỡ gà, mỡ lỢn. Nếu ăn theo kiểu trên mà thử lại máu thấy cholesterol hoặc triglycerid vẫn cao, nên dùng thuốc Lipanthyl 300mg, người lớn uống 1 viên mỗi ngày. Hoặc các thuốc hạ cholesterol mới như Lopid, Lipitor, Zocor, Lescol, Lipobay... 6.1.3. Ăn đúng mứcgiữcho khỏi béo Đối chiếu chỉ số cân nặng trong bảng sau để biết số cân không nên vượt quá đối với từng chiều cao; Nếu thấy nặng vượt quá số cân cho phép, phải hạn chế bớt số calo đi. Nên nhớ rằng những thức ăn "làm béo" tức là cho nhiều calo, không phải là thịt, cá, mà là các chất mỡ, dầu và đường bột. Trong khi lOOg thịt nạc hoặc cá nạc chỉ cho khoảng 80-100 kilocalo thì lOOg dầu hoặc mỡ cho 800 kilocalo, lOOg gạo cho 300 kilocalo và lOOg đường cho 400 kilocalo. Còn các loại quả cho rất ít calo và rau xanh thì hầu như không thêm calo nào, người béo có thể ăn thoải mái rau xanh mà không lên cân. Nếu là người lao động nặng, phải thêm 1000 - 86 1200 kilocalo và lao động trung bình thêm 500 kilocalo nữa. Bảng nhu cầu năng lượng/ngày và mức protein cần thiết/ngày. Tính theo tuổi và cân nặng Trọnglượng (kg) Nam Nhucầu năngương(kìlocalo/ngày) 18-30tuổi 30-60tuổi Trên60tuổi Mức proteincần thiết (g/ngày) 50 2.300 55 2.400 60 2.550 65 2.700 70 2.800 75 2.900 Nữ 40 1.700 45 1.850 50 1.950 55 2.100 60 2.200 65 2.300 70 2.450 75 2.550 2.350 1.850 37,5 2.450 2.450 41,0 2.500 2.500 45,0 2.600 2,600 49,0 2.700 2.700 52,5 2.800 2,400 56,0 1.900 1,650 30,0 1.950 1.700 34,0 2,050 1,800 37,5 2.100 1.900 41,0 2.200 1.950 45,0 2.250 2.050 49,0 2.300 2.150 52,5 2.400 2.200 56,5 Tổng số calo như vậy phải san ra cân đối giữa các thành phần glucid (đường, bột), protid (đậu, lạc, thịt, cá), lipid (dầu, mỡ). Và có tính đến cả các vitamin và muối khoáng. 87 6.2. Phòng và chữa tăng huyết áp Tăng huyết áp chắc chắn là một nguyên nhân để phát triển xơ vữa động mạch, ớ tuổi trung niên, người có huyết áp cao, cụ thể là từ 160/95 mmHg trở lên, bị đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim nhiều gấp từ 3 đến 5 lần so với những người cùng tuổi nhưng huyết ápbình thường, từ 140/90 trởxuống. 6.2.1. Giảm nửa muối ăn, có thể nói là ăn nửa muối hoặc ăn tươngđối nhạt Muối natri clorua rất cần cho cơ thể, nhưng người ta chỉ cần ăn khoảng 2 gam mỗi ngày. Thế mà hiện nay, người dân thường ăn 10-11 gam, gấp 4-5 lần nhu cầu đó. Người ta thấy nơi nào ăn "mặn", thì số người bị tăng huyết áp cao hơn. Phải đề phòng bệnh xơ vữa động mạch ngay từ khi còn nhỏ tuổi, khi huyết áp vẫn bình thường. Tạo thói quen ăn hơi nhạt từ nhỏ, sẽ có lợi nhiều về sau này. Chỉ những người có huyết áp 'thấp, dưới 100/60 mới không nên hạn chế muối. Các loai rau quả có rất ít natri nên có thể ăn thoải mái. Chúng lại có ưu điểm là nhiều kali, có ích để phòng chống bệnh tim do thiếu máu cục bộ. 6.2.2. Giảm rượu uống Rượu là đồ uống rất phổ biến, nhưng rượu là một chất độc nguy hiểm, gây nhiều tai hại cho cá nhân, gia đình và xã hội. 88 Huyết áp tăng vọt, tai biến mạch máu não, suy tim cấp, loạn nhịp tim là những hậu quả "nhỡn tiền" của ngộ độc rượu cấp. Uống nhiều rưỢu hay gây tăng huyết áp, càng uống nhiều huyết áp càng cao. Cai được rưỢu, huyết áp có thể trởvề bình thường trong những trường hỢpnày. Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của những thuốc chữa tăng huyết áp. Nghiện rượu còn hay đưa đến các bệnh cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim nữa. Ngoài ra rượu còn làm gan bị suy bị xơ, khớp bị sưng, thần kinh bị rối loạn các kiểu, ống tiêu hóa và tụy bị viêm, tinh hoàn bị teo, ung thư xuất hiện, nhất là ung thư vú và ngay cả đến thai còn trong bụng mẹ cũng kém phát triển vì rượu. Bên cạnh đó, uống rượu ít, đúng mức thì không gây ảnh hưởng xấu, đồng thời còn giảm được chút ít nguy cơ nhồi máu cơ tim, và nguy cơ tử vong do tim mạch. Còn người đã có huyết áp cao rồi thì nên kiêng rượu hẳn 6.2. 3. Bỏ thuốc lá Thuốc lá gây nên bệnh xơ vữa động mạch vành như đau thắt ngực và nhồi máu cơtim. Các thống kê đều cho thấy đàn ông hút một gói thuốc lá một ngày thì tỷ lệ tử vong tăng 70% và nguy cơ bị bệnh động mạch vành tăng gấp 3-5 lần so với người không hút. Nói chung càng hút nhiều 89 thì nguy cơ càng lớn, dù chỉ vài điếu cũng đã có hại. Phụ nữ hút thuốc bị bị nhiều nhồi máu cơ tim hơn, nhất là phụ nữ trên 35 tuổi uống thuốc tránh thai mà lại hút thuốc lá, thì tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim tăng lên càng rõ rệt. Trong 400 chất khác nhau tìm thấy trong khói thuốc lá thì có 3 chất tội nặng nhất là: nicotin, oxyd carbon và các chất gây ung thư. Đối với bệnh tim mạch, nhất là đối với đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, thì chất nicotin và oxyd carbon gây hại nhiều nhất.

Tài liệu liên quan