CHÌA KHÓA GIÚP LÀM TỐT PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRONG
ĐỀ THI NGỮ VĂN THPT QUỐC GIA
Bắt đầu từ năm 2014, đề thi môn Ngữ văn có sự thay đổi mạnh mẽ với cả hai phần: đọc hiểu và
làm văn. Phần đọc hiểu văn bản là điểm mới nhất của đề thi môn Ngữ văn. Đề thi THPT quốc gia môn
Văn 2016 theo thông tin chính thức của Bộ giáo dục là sẽ tương tự giống cấu trúc đề thi năm 2015. Do
vậy chúng ta cùng phân tích kỹ cấu trúc đề thi 2015 và dựa theo thông tin lưu ý thêm về cấu trúc đề thi
2016 nói chung của Bộ sẽ nắm được phương pháp làm bài đúng yêu cầu, đạt hiệu quả cao.
I. Những điều cần lưu ý về cấu trúc đề thi đại học môn Ngữ văn từ năm 2010 – 2015:
Đề thi đại học từ năm 2010 đến 2015 chủ yếu tập trung ở lớp 12. Tuy nhiên, nói một cách chính
xác, nội dung lớp 10, lớp 11 vẫn thường xuyên xuất hiện trong đề thi đại học, vì thế không nên lơ là
kiến thức cũ.
Từ năm 2014, đề thi đại học môn Ngữ văn năm nay có sự thay đổi lớn nhất về cấu trúc và nội
dung. Đề thi không còn phần tự chọn. Câu 1 (2 điểm) chuyển từ câu hỏi tái hiện kiến thức văn học
trong chương trình học thành câu đọc – hiểu một đoạn ngữ liệu. Năm 2014, ngữ liệu không có trong
chương trình học chính khoá, cả hai ngữ liệu trong đề khối C và khối D đều được lấy từ phần Đọc
thêm trong SGK Ngữ văn 12. Đến năm 2015, ngữ liệu đọc hiểu là những văn bản hoàn toàn mới mẻ,
không có trong SGK nữa. Phần này gồm 2 văn bản, một văn bản thơ và một văn bản văn xuôi, mỗi
văn bản sẽ có 4 ý hỏi, nâng tổng điểm của cả phần này lên 3 điểm, các ý được chia nhỏ đến 0,25 điểm.
Phần nghị luận xã hội và nghị luận văn học vẫn được giữ nguyên trong cấu trúc đề thi các năm
2014 và 2015. Phần nghị luận xã hội vẫn chiếm 3 điểm còn nghị luận văn học năm 2015 chỉ còn 4
điểm thay vì 5 điểm như các năm trước.
Năm 2014, chúng ta vẫn có 2 kì thi riêng – thi tốt nghiệp và thi đại học, do đó, đề Văn vẫn có sự
phân chia theo khối C và D. Tuy nhiên trong mỗi đề, không còn phân biệt chương trình chuẩn và nâng
cao ở câu 3 nữa mà chỉ có một câu hỏi duy nhất, chung cho tất cả thí sinh. Năm 2015, chỉ còn một kì
thi duy nhất vừa để xét tốt nghiệp vừa xét tuyển ĐH, CĐ nên chỉ còn một đề thi duy nhất và không có
sự phân biệt giữa các khối thi. Sau đây là tổng hợp về cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
sắp tới:
các ý hỏi
từ dễ đến
Câu hỏi
Mức độ
yêu cầu
Phân tích, đánh giá
Đọc - hiểu
Bao gồm Phần đọc – hiểu trước hết đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức về phần Tiếng Việt trong chương
trình Ngữ văn THCS và THPT (về các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt, phong cách chức năng
khó. ngôn ngữ, các kiểu câu và liên kết câu, liên kết đoạn văn trong văn bản, các thao tác lập luận,…).
Các ý hỏi phân hóa học sinh thường ở dạng trình bày cảm nhận của bản thân về thái độ của tác giả văn bản
hay suy nghĩ về vấn đề được đặt ra trong văn bản.
Từ năm 2010 - 2015, Nghị luận hội là câu hỏi chiếm 3 điểm trong đề thi đại học môn Ngữ văn.
Nghị luận hội thường ra theo 3 dạng:
- Nghị luận về một tưởng, đạo lí.
- Nghị luận về một hiện tượng hội.
- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.
Các vấn đề cần nghị luận thường được đưa ra bởi một câu nói, nhận định, nhận xét...
Nghị luận
hội
Trung
bình,
Tương
đối khó
Dạng bài Nghị luận hội thường yêu cầu học sinh ở 3 mức độ tư duy:
- Mức độ thông hiểu: Giải thích được ý kiến, nhận định.
- Mức độ vận dụng: Bàn luận, đánh giá ý kiến (đưa ra quan điểm cá nhân với vấn đề cần nghị luận và bảo
vệ, dẫn chứng được quan điểm đó).
- Mức độ vận dụng cao: Rút ra bài học từ vấn đề cần nghị luận.
Gợi ý dàn ý bài văn nghị luận hội
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn vấn đề cần bàn luận.
Thân bài:
- Trả lời câu hỏi “là gì”: Giải thích khái niệm (nếu có). Phần này có thể giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng...
tùy theo từng vấn đề.
- Trả lời câu hỏi “như thế nào”: Nêu biểu hiện của vấn đề trong cuộc sống, trong văn chương
- Trả lời câu hỏi “vì sao”: Lí giải nguyên nhân vấn đề, hiện tượng hay phẩm chất...
- Bàn luận về vấn đề, đánh giá phẩm chất, hiện tượng...; đặt ra một số câu hỏi lật ngược lại vấn đề, nhìn
vấn đề sâu hơn ở nhiều góc độ... Ví dụ: hiện tượng/ phẩm chất/ ý kiến ấy có luôn đúng/sai/tốt/xấu?
- Rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân. Phần này cần viết chân thành, trung thực, tránh
khuôn sáo, cứng nhắc.
Kết bài: Tóm lại vấn đề cần bàn luận.
Nghị luận văn học là câu hỏi chiếm nhiều điểm nhất trong đề thi đại học. Đây cũng là nội dung kiến thức
yêu cầu cao nhất, nhằm kiểm tra khả năng phân tích, tổng hợp và tư duy khoa học, khả năng diễn đạt và
cảm thụ văn học của học sinh.
Nghị luận văn học thường được ra dưới dạng bài phân tích, bình luận, cảm nhận về một tác phẩm văn
học, nhân vật trong tác phẩm, tình huống truyện, đoạn thơ...
Nghị luận văn học yêu cầu học sinh tư duy ở cả 4 mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao.
Trong đó:
Đánh giá
- Mức độ nhận biết: Trình bày sơ lược về tác phẩm, tác giả.
học sinh
- Mức độ thông hiểu, vận dụng: Phân tích nội dung, diễn biến của tình huống truyện, ý nghĩa của tình
Nghị luận
ở nhiều
huống hoặc phân tích đoạn thơ hoặc phân tích nhân vật...
văn học
mức độ
- Mức độ vận dụng cao: Rút ra bài học nhận thức và hành động hoặc đánh giá chung về vấn đề cần nghị
từ dễ đến luận.
khó.
Khi làm bài nghị luận văn học, trước tiên, học sinh nên hình thành một dàn ý, xác định hướng triển khai
các luận điểm, luận cứ trong bài; dàn ý ấy có thể thay đổi trong quá trình làm bài, nhưng việc xác định và
thay đổi ấy cũng sẽ giúp các em có một bài làm mạch lạc, tránh lan man. cần tránh việc biến phân tích thơ
thành diễn xuôi và phân tích văn xuôi thành kể chuyện, các em cần lưu ý các yếu tố hình thức trong thơ để
tìm ra nội dung cảm xúc gửi gắm trong từng yếu tố như vần, thanh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, các từ
ngữ, hình ảnh...; còn trong văn xuôi tự sự, cần phân tích ý nghĩa các chi tiết, từ nhân vật với ngoại hình, cử
chỉ, hành động, lời đối thoại, độc thoại đến các chi tiết liên quan đến nghệ thuật trần thuật, điểm nhìn,
nghệ thuật xây dựng tình huống... Tuyệt đối tránh ngôn ngữ kể, ví dụ như: một hôm, giữa lúc ấy, sau đó
thì

Chìa khóa giúp làm tốt phần đọc hiểu văn bản trong đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 1 | Lần xem: 12 | Page: 18 | FileSize: 0.00 M | File type: PDF
12 lần xem

Chìa khóa giúp làm tốt phần đọc hiểu văn bản trong đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia. Xin giới thiệu tới các bạn học sinh Chìa khóa giúp làm tốt phần đọc hiểu văn bản trong đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia, giúp các bạn ôn tập dễ dàng hơn và nắm các phương pháp làm bài, củng cố kiến thức cơ bản. Mời các bạn cùng tham khảo!.

Nội dung

CHÌA KHÓA GIÚP LÀM TỐT PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRONG ĐỀ THI NGỮ VĂN THPT QUỐC GIA Bắt đầu từ năm 2014, đề thi môn Ngữ văn có sự thay đổi mạnh mẽ với cả hai phần: đọc hiểu và làm văn. Phần đọc hiểu văn bản là điểm mới nhất của đề thi môn Ngữ văn. Đề thi THPT quốc gia môn Văn 2016 theo thông tin chính thức của Bộ giáo dục là sẽ tương tự giống cấu trúc đề thi năm 2015. Do vậy chúng ta cùng phân tích kỹ cấu trúc đề thi 2015 và dựa theo thông tin lưu ý thêm về cấu trúc đề thi 2016 nói chung của Bộ sẽ nắm được phương pháp làm bài đúng yêu cầu, đạt hiệu quả cao. I. Những điều cần lưu ý về cấu trúc đề thi đại học môn Ngữ văn từ năm 2010 – 2015: Đề thi đại học từ năm 2010 đến 2015 chủ yếu tập trung ở lớp 12. Tuy nhiên, nói một cách chính xác, nội dung lớp 10, lớp 11 vẫn thường xuyên xuất hiện trong đề thi đại học, vì thế không nên lơ là kiến thức cũ. Từ năm 2014, đề thi đại học môn Ngữ văn năm nay có sự thay đổi lớn nhất về cấu trúc và nội dung. Đề thi không còn phần tự chọn. Câu 1 (2 điểm) chuyển từ câu hỏi tái hiện kiến thức văn học trong chương trình học thành câu đọc – hiểu một đoạn ngữ liệu. Năm 2014, ngữ liệu không có trong chương trình học chính khoá, cả hai ngữ liệu trong đề khối C và khối D đều được lấy từ phần Đọc thêm trong SGK Ngữ văn 12. Đến năm 2015, ngữ liệu đọc hiểu là những văn bản hoàn toàn mới mẻ, không có trong SGK nữa. Phần này gồm 2 văn bản, một văn bản thơ và một văn bản văn xuôi, mỗi văn bản sẽ có 4 ý hỏi, nâng tổng điểm của cả phần này lên 3 điểm, các ý được chia nhỏ đến 0,25 điểm. Phần nghị luận xã hội và nghị luận văn học vẫn được giữ nguyên trong cấu trúc đề thi các năm 2014 và 2015. Phần nghị luận xã hội vẫn chiếm 3 điểm còn nghị luận văn học năm 2015 chỉ còn 4 điểm thay vì 5 điểm như các năm trước. Năm 2014, chúng ta vẫn có 2 kì thi riêng – thi tốt nghiệp và thi đại học, do đó, đề Văn vẫn có sự phân chia theo khối C và D. Tuy nhiên trong mỗi đề, không còn phân biệt chương trình chuẩn và nâng cao ở câu 3 nữa mà chỉ có một câu hỏi duy nhất, chung cho tất cả thí sinh. Năm 2015, chỉ còn một kì thi duy nhất vừa để xét tốt nghiệp vừa xét tuyển ĐH, CĐ nên chỉ còn một đề thi duy nhất và không có sự phân biệt giữa các khối thi. Sau đây là tổng hợp về cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn sắp tới: Câu hỏi Mức độ yêu cầu Phân tích, đánh giá Bao gồm Phần đọc – hiểu trước hết đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức về phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT (về các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt, phong cách chức năng Đọc - hiểu khó. ngôn ngữ, các kiểu câu và liên kết câu, liên kết đoạn văn trong văn bản, các thao tác lập luận,…). Các ý hỏi phân hóa học sinh thường ở dạng trình bày cảm nhận của bản thân về thái độ của tác giả văn bản hay suy nghĩ về vấn đề được đặt ra trong văn bản. Từ năm 2010 - 2015, Nghị luận xã hội là câu hỏi chiếm 3 điểm trong đề thi đại học môn Ngữ văn. Nghị luận xã hội thường ra theo 3 dạng: - Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. - Nghị luận về một hiện tượng xã hội. - Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học. Các vấn đề cần nghị luận thường được đưa ra bởi một câu nói, nhận định, nhận xét... Trung Nghị luận xã bình, hội Tương đối khó Dạng bài Nghị luận xã hội thường yêu cầu học sinh ở 3 mức độ tư duy: - Mức độ thông hiểu: Giải thích được ý kiến, nhận định. - Mức độ vận dụng: Bàn luận, đánh giá ý kiến (đưa ra quan điểm cá nhân với vấn đề cần nghị luận và bảo vệ, dẫn chứng được quan điểm đó). - Mức độ vận dụng cao: Rút ra bài học từ vấn đề cần nghị luận. Gợi ý dàn ý bài văn nghị luận xã hội Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn vấn đề cần bàn luận. Thân bài: - Trả lời câu hỏi “là gì”: Giải thích khái niệm (nếu có). Phần này có thể giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng... tùy theo từng vấn đề. - Trả lời câu hỏi “như thế nào”: Nêu biểu hiện của vấn đề trong cuộc sống, trong văn chương - Trả lời câu hỏi “vì sao”: Lí giải nguyên nhân vấn đề, hiện tượng hay phẩm chất... - Bàn luận về vấn đề, đánh giá phẩm chất, hiện tượng...; đặt ra một số câu hỏi lật ngược lại vấn đề, nhìn vấn đề sâu hơn ở nhiều góc độ... Ví dụ: hiện tượng/ phẩm chất/ ý kiến ấy có luôn đúng/sai/tốt/xấu? - Rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân. Phần này cần viết chân thành, trung thực, tránh khuôn sáo, cứng nhắc. Kết bài: Tóm lại vấn đề cần bàn luận. Nghị luận văn học là câu hỏi chiếm nhiều điểm nhất trong đề thi đại học. Đây cũng là nội dung kiến thức yêu cầu cao nhất, nhằm kiểm tra khả năng phân tích, tổng hợp và tư duy khoa học, khả năng diễn đạt và cảm thụ văn học của học sinh. Nghị luận văn học thường được ra dưới dạng bài phân tích, bình luận, cảm nhận về một tác phẩm văn học, nhân vật trong tác phẩm, tình huống truyện, đoạn thơ... Nghị luận văn học Nghị luận văn học yêu cầu học sinh tư duy ở cả 4 mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao. Trong đó: Đánh giá - Mức độ nhận biết: Trình bày sơ lược về tác phẩm, tác giả. học sinh - Mức độ thông hiểu, vận dụng: Phân tích nội dung, diễn biến của tình huống truyện, ý nghĩa của tình ở nhiều huống hoặc phân tích đoạn thơ hoặc phân tích nhân vật... mức độ - Mức độ vận dụng cao: Rút ra bài học nhận thức và hành động hoặc đánh giá chung về vấn đề cần nghị từ dễ đến luận. khó. Khi làm bài nghị luận văn học, trước tiên, học sinh nên hình thành một dàn ý, xác định hướng triển khai các luận điểm, luận cứ trong bài; dàn ý ấy có thể thay đổi trong quá trình làm bài, nhưng việc xác định và thay đổi ấy cũng sẽ giúp các em có một bài làm mạch lạc, tránh lan man. cần tránh việc biến phân tích thơ thành diễn xuôi và phân tích văn xuôi thành kể chuyện, các em cần lưu ý các yếu tố hình thức trong thơ để tìm ra nội dung cảm xúc gửi gắm trong từng yếu tố như vần, thanh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, các từ ngữ, hình ảnh...; còn trong văn xuôi tự sự, cần phân tích ý nghĩa các chi tiết, từ nhân vật với ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời đối thoại, độc thoại đến các chi tiết liên quan đến nghệ thuật trần thuật, điểm nhìn, nghệ thuật xây dựng tình huống... Tuyệt đối tránh ngôn ngữ kể, ví dụ như: một hôm, giữa lúc ấy, sau đó thì… Ngoài những phân tích cấu trúc đề thi đại học các năm, các em cần nắm bắt định hướng Bộ giáo dục khi ra đề. Dựa vào những yêu cầu trên, các em có cách phân tích và làm bài hiệu quả. - Học sinh cần trình bày rõ ràng rạch mạch và đủ ý và cần mở rộng gắn với thực tiễn cuộc sống: Với thang điểm 10, bài làm được chấm đến 0,25, lúc đó thang điểm được chia thành nhỏ. Do đó học sinh lưu ý cần trình bày rõ rành đủ ý lối văn mạch lạc và cần sáng tạo. - Đề thi Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí đã được ra theo hướng mở để khắc phục tình trạng bắt học sinh học thuộc lòng, đồng thời huy động kiến thức tổng hợp, liên môn và vốn sống của học sinh vào việc làm bài (chẳng hạn, trong đề thi Ngữ văn có kiến thức về Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân...) vì vậy thường xuyên độc thêm sách báo kiến thức bên ngoài, đặc biệt những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Do đây là câu hỏi khá tự do, không có bài học sẵn trong sách, đòi hỏi tính chủ động rất cao ở học sinh, nên tiếp xúc với câu hỏi thuộc dạng này, học sinh phải rất linh hoạt và chủ động, phải thể hiện được những chính kiến của mình trước một vấn đề (chẳng hạn: niềm tin, sự trung thực, vẻ đẹp tâm hồn, thái độ sống…) câu hỏi nêu ra, phải có sự sáng tạo. - Trong đề thi các năm luôn có một câu Nghị luận xã hội (3 điểm). Để giải quyết tốt các bài văn Nghị luận xã hội, ngoài kiến thức được học trong nhà trường, học sinh còn phải tăng cường kiến thức bên ngoài, trên sách báo, trong cuộc sống, đặc biệt những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Do đây là câu hỏi khá tự do, không có bài học sẵn trong sách, đòi hỏi tính chủ động rất cao ở học sinh, nên tiếp xúc với câu hỏi thuộc dạng này, học sinh phải rất linh hoạt và chủ động, phải thể hiện được những chính kiến của mình trước một vấn đề (chẳng hạn: niềm tin, sự trung thực, vẻ đẹp tâm hồn, thái độ sống…) câu hỏi nêu ra, phải có sự sáng tạo. II. Tham khảo đề thi của các năm trước Để nắm được cấu trúc đề thi đại học môn Ngữ văn từ năm 2010 - 2015, học sinh tham khảo phân bổ đề thi 6 năm qua bảng sau: PHÂN BỐ TRONG ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN TỪ NĂM 2010 – 2014 Câu hỏi 2010 2011 2012 Năm 2013 2014 2015 Tái hiện kiến học(bao gồm Sự đa dạng mà kiến thức về tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học, chi tiết văn học...) Đọc - hiểu(đối với năm 2014 & 2015) Trong truyện Trong phần mở đầu Trong tác phẩmAi đã ngắn Hai đứa trẻ bản Tuyên ngôn đặt tên cho dòng của Thạch Lam, ấn độc lập, Chủ tịch song?, Hoàng Phủ tượng của nhân vật Hồ Chí Minh đã Ngọc Tường đã ví vẻ Liên về Hà Nội có trích dẫn những đẹp dòng sông này những nét nổi bật bảng tuyên ngôn với hình ảnh 2 người nào? Hình ảnh Hà nào? Việc trích dẫn phụ nữ. Ý nghĩa của nội có ý nghĩa gì đó có ý nghĩa gì? những hình ảnh ấy. đối với tâm hồn Liên? - Đất nước (Nguyễn Đình Thi) - Đò Lèn (Nguyễn Duy) - Hát về một hòn đảo (Trần Đăng Khoa) - Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa (Sách Bài tập Ngữ văn 12 – Tập một) Nghị luận xã hội Như một thứ a-xit Biết tự hào về bản vô hình, thói vô thân là cần thiết trách nhiệm ở mỗi nhưng biết xấu hổ cá nhân có thể ăn còn quan trọng mòn cả một xã hơn. hội. Hãy viết một bài Kẻ cơ hội thì nôn Nhà nghiên cứu Kẻ mạnh không phải nóng tạo ra thành Trần Đình Hượu có là kẻ giẫm lên vai kẻ tích, người chân nêu một nhận xét khác để thỏa mãn chính thì kiên nhẫn về lối sống của lòng ích kì. Kẻ mạnh lập nên thành tựu. người Việt Nam chính là kẻ giúp đỡ truyền kẻ khác trên đôi vai Hãy viết một bài văn thống: Không ca mình. Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức. Bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về Trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay. văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý kiến trên. ngắn trình bày suy nghĩ về ý kiến trên. tụng trí tuệ mà ca vấn đề trên. tụng sự khôn khéo. Nêu ý kiến về điều Khôn khéo là ăn đi làm nên sức mạnh trước, lội nước theo chân chính của mỗi sau, biết thủ thế, con người cũng như giữ mình, gỡ được của quốc gia. tình thế khó khăn. Hãy bày tỏ quan điểm sống của chính mình. Chương trình Chương trình Chương trình Chuẩn: trình tượngi sông Hương trích trong tác Chuẩn: Bình luận về những trong Ai đã đặt tên phẩm “Chiếc đoạn thơ sau trong huống truyện trong thi của hình tượng hình tượng người về cho dòng sông? của của Nguyễn Minh Vĩ Dạ (Hàn Mặc tác phẩmChữ tác phẩm Rừng xà lính trong bài Tường, có ý kiến cho Châu, yêu cầu: giang(Huy Cận). tù(Nguyễn Tuân). Trung Thành.n Tiến (Quang cảnh sắc thiên nhiên nhận về nhân vật g Chương trình thơ mộng, tình tứ. Ý chài trong đoạn Nâng cao: kiến khác thì nhấn trích trên. Từ đó, Bình luận về ý mạnh: Vẻ đẹp bề sâu bình luận ngắn Chương trình Chương trình nâng kiến: sự nhẫn nhục của sông Hương là gọn về cách nhìn Nâng cao: cao: của nhân vật Từ những trầm tích văn nhận cuộc sống và Phân tích đoạn thơ Cảm nhận về 2 đoạn (Đời thừa- Nam hóa, lịch sử.Hãy bình con người của nhà trích từ bài thơ Đất thơ trong 2 bài Cao) không đáng luận các ý kiến trên. văn trong tác nước(Trích trường thơ Đây thôn Vĩ trách, chỉ đáng phẩm. ca Mặt đường khát Dạ (Hàn Mặc Tử) thương; còn sự - Khối D: Về hình vọng của Nguyễn và Tương tư nhẫn nhục của tượng Lorca trong Khoa Điềm) (Nguyễn Bính). người đàn bà hàng bài thơ “Đàn ghita chài (Chiếc thuyền của Lorca” của ngoài xa- Nguyễn Thanh Thảo, có ý Minh Châu) thì vừa kiến cho rằng: Đó là đáng thương vừa đáng trách. mẫu nghệ sĩ – chiến sĩ, vì dấn thân đấu tranh cho dân chủ và tự do nên bị bọn phát-xít hành hình. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là mẫu nghệ sĩ thuần túy, chỉ đam mê cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật, nhưng bị giết hại oan khuất. Từ cảm nhận về hình tượng Lorca, bình luận các ý kiến trên. III. Gợi ý làm bài đọc hiểu văn bản trong đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia Đây là một phần mới của đề thi nên nhiều em vẫn còn khá bối rối, chưa rõ như thế nào là trả lời đủ ý và đạt yêu cầu. Để làm được phần này, đòi hỏi người học có một năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản, trong khi đó những kiến thức mà học sinh tích lũy được từ tiểu học đến THCS đã bị mai một rất nhiều. Điều này dẫn đến năng lực đọc hiểu văn bản bị hạn chế. Vì vậy, học sinh cần phải trang bị lại một cách có hệ thống và bài bản những kiến thức, kĩ năng phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản của mình. Từ thực tế này, theo gợi ý của thầy Nguyễn Văn Tập, sau đây là các giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh. Những kiến thức này đã được chắt lọc, lựa chọn, sắp xếp thành một hệ thống từ đơn giản đến phức tạp để học sinh dễ học, dễ nhớ. 1. Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản Để giúp học sinh hình thành năng lực đọc hiểu, các em cần ôn tập củng cố lại một hệ thống những kiến thức cơ bản đóng vai trò làm nền tảng, bao gồm: - Kiến thức về từ loại (khái niệm, phân loại từ); kiến thức về câu (khái niệm, phân loại câu); kiến thức về các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, nói giảm, nói tránh, điệp từ, điệp ngữ, phép đối,… ); - Kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ (phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ); - Kiến thức về các hình thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ). Khi củng cố lại những kiến thức đó, học sinh cần ghi nhớ một cách bản chất, tránh việc ghi nhớ kiến thức lí thuyết quá nhiều mà không hiểu được bản chất. 2. Nhận diện phương thức biểu đạt trong văn bản Nhận diện phương thức biểu đạt là một nội dung quen thuộc, thường gặp trong các đề thi đọc hiểu. Để trả lời được câu hỏi nội dung này, học sinh phải được cung cấp lại những kiến thức về 6 phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính công vụ. Mỗi một hình thức biểu đạt nhằm hướng tới một mục đích nhất định, theo bảng dưới đây: STT Phương thức biểu đạt 1 Tự sự 2 Miêu tả 3 Biểu cảm 4 Nghị luận 5 Thuyết minh 6 Hành chính công vụ Mục đích giao tiếp Trình bày diễn biến sự việc (kể chuyện) Tái hiện trạng thái sự vật, cảnh vật, con người Bày tỏ tình cảm, cảm xúc Nếu ý kiến đánh giá, bàn luận Giới thiệu đặc điểm, phương pháp Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, trách nhiệm giữa người và người Cần lưu ý: Không phải mỗi văn bản chỉ có một hình thức biểu đạt duy nhất, mà thường kết hợp các hình thức biểu đạt khác nhau nhưng bao giờ cũng có một phương thức là chủ đạo. 3. Nhận diện các phong cách ngôn ngữ Trong chương trình THPT, học sinh đã được học tất cả 6 phong cách ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính. Mỗi phong cách ngôn ngữ có đặc điểm riêng về phong cách theo bảng dưới đây: STT Phong cách ngôn ngữ 1 Sinh hoạt 2 Báo chí 3 Nghệ thuật 4 Chính luận 5 Khoa học 6 Hành chính Khái niệm, đặc điểm Dùng trong giao tiếp hằng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít trau chuốt, dùng để trao đổi thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm, đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống. Kiểu diễn đạt dùng các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng (Đài phát thanh, truyền hình, báo, Internet…) Chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp đặt lựa chọn, trau chuốt, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt giá trị thẩm mỹ. Dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ với những vấn đề thiết thực, nóng bỏng trong đời sống, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị - xã hội. Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, phần lớn được sử dụng ở dạng viết nhưng cũng có thể ở dạng nói (trong một số trường hợp). Sử dụng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp, điều hành và quản lý xã hội. Tuy nhiên trong thực tế, ngữ liệu để dùng đọc hiểu không chỉ được trình bày theo một phong cách ngôn ngữ duy nhất mà thường kết hợp nhiều phong cách khác nhau. Ví dụ phong cách ngôn ngữ chính luận và báo chí thường đi kèm với nhau; phong cách nghệ thuật và sinh hoạt cũng có thể đi kèm với nhau. Đề thi tốt nghiệp năm 2014 là một minh chứng tiêu biểu. Vì vậy khi gặp những văn bản loại này học sinh phải chú ý nếu không sẽ không được điểm tối đa. 4. Nhận diện hình thức ngôn ngữ Có hai hình thức ngôn ngữ là ngôn ngữ trực tiếp và ngôn ngữ nửa trực tiếp. - Ngôn ngữ trực tiếp gồm: Ngôn ngữ nhân vật (ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật với nhau trong truyện, hoặc chỉ là những lời độc thoại nội tâm của nhân vật); ngôn ngữ của người kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật). - Ngôn ngữ nửa trực tiếp: Ngôn ngữ đan xen giữa lời của nhân vật với lời của người kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật nửa trực tiếp). 5. Nhận diện các phương thức trần thuật Gồm: - Trần thuật từ ngôn thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện - Trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện tự giấu mình - Trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn và lời kể theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm. 6. Nhận diện các phép liên kết hình thức STT Các phép liên kết hình thức 1 Phép lặp từ ngữ 2 Đồng nghĩa / Trái nghĩa / Liên tưởng 3 Phép thế 4 Phép nối Đặc điểm Lặp ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu đứng trước Sử dụng ở câu đứng sau có những từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với những từ đã có ở câu trước. Sử dụng ở những câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước. Sử dụng ở những câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước (dùng những quan hệ từ) 7. Nhận diện các kiểu câu Gồm: - Câu chia theo mục đích nói: + Câu tường thuật + Câu nghi vấn + Câu cảm thán + Câu cầu khiến - Câu chia theo cấu trúc/ chức năng ngữ pháp: + Câu chủ động/ câu bị động + Câu bình thường/ câu đặc biệt + Câu đơn/ câu ghép. 8. Nhận diện các biện pháp tu từ Nhận diện các biện pháp tu từ so sánh; ẩn dụ; hoán dụ; nhân hóa; nói giảm, nói tránh, cường điệu; điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ngữ pháp; phép đối; dùng từ láy. Tham khảo các ví dụ dưới đây:  So sánh: a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn. b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh: - A là B: + “Người ta là hoa đất” [Tục ngữ] + “Quê hương là chùm khế ngọt” [Quê hương - Đỗ Trung Quân] - A như B: “Nước biếc trông như làn khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào” [Thu vịnh – Nguyễn Khuyến] “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” [Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên] - Bao nhiêu…. bấy nhiêu…. “Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” [ca dao] Trong đó: + A – sự vật, sự việc được so sánh + B – sự vật, sự việc dùng để so sánh + “Là” “Như” “Bao nhiêu…bấy nhiêu” là từ ngữ so sánh, cũng có khi bị ẩn đi. c/ Các kiểu so sánh: - Phân loại theo mức độ: + So sáng ngang bằng:

Tài liệu liên quan