Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – thực tiễn tại Bộ Thông tin và Truyền thông

Đăng ngày 7/15/2019 8:28:57 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 6 | Page: 26 | FileSize: 0.45 M | File type: PDF
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – thực tiễn tại Bộ Thông tin và Truyền thông. Luận văn được chia thành 2 chương được trình bày như sau: Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước; Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƢƠNG QÚI THĂNG
THỂ CHẾ QUẢN NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC THỰC TIỄN
TẠI BỘ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG
Chuyên ngành: Quản công
số: 60340403
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC QUẢN CÔNG
NỘI - 2017
Công trình đƣợc hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. BÙI THỊ THANH THÚY
Phản biện 1:……………………………………………………………….
………………………………………………………………..
Phản biện 2:……………………………………………………………….
………………………………………………………………..
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện
Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp …....., Nhà...... - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia
Số:77 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng ……
năm 201...
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia
hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào
nền kinh tế quốc tế. Doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải đối mặt, cạnh tranh bình
đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi
gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP). Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh
nghiệp của Việt Nam. Trong hệ thống các doanh nghiệp, hoạt động của DNNN ở
Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, mô hình này đã đạt được những kết quả nhất
định, là công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả của Nhà nước. Về cơ bản, các DNNN đã
nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế, quy mô vốn liên tục tăng,
khẳng định vai trò cụ thể của mình trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội đất
nước. Các DNNN không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước; góp phần quan
trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đóng góp không nhỏ vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và
nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền
kinh tế... mà còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức
sống cho nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh...
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các DNNN ở Việt Nam có không ít tiêu cực,
làm dấy lên hoài nghi về vai trò thực tế của nó, không chỉ về hiệu quả kinh tế mà các
tập đoàn kinh tế nhà nước gặp phải không ít khó khăn, thách thức và nhiều vấn đề
nảy sinh như:
Một là, mục tiêu, hiệu quả hoạt động của các DNNN chưa tương xứng với
nguồn lực nhà nước đầu tư. Nhiều tập đoàn kinh tế thay vì phải tập trung vào ngành
nghề chính, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế và chính trị trọng yếu của kinh tế nhà
nước, lại mở rộng quy mô đầu tư ngoài ngành trong khi thực tế năng lực tài chính lại
hạn chế. Chẳng hạn, một số tập đoàn thiếu vốn cho ngành chính nhưng vẫn mở rộng
sang các ngành nghề rủi ro khác như tài chính, ngân hàng, bất động sản, từ đó, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội của quốc gia.
Hai là, công tác giám sát, kiểm soát hoạt động các DNNN còn nhiều hạn chế
dẫn đến không phát hiện kịp thời để có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu tổn thất
trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt là kiểm soát việc quản lý sử
dụng tài sản công trong các DNNN hiện nay thiếu những thiết chế hữu hiệu và hành
lang pháp lý điều chỉnh một cách toàn diện, kịp thời. Sự tăng trưởng của nền kinh tế
đòi hỏi phải huy động tối đa mọi nguồn lực, trong đó tài sản công được coi là một
nguồn lực quan trọng và cần thiết, nhất là trong điều kiện đất nước ta đang tập trung
phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững. Do vậy nếu không đặt vấn đề quản lý tài
sản công một cách có hiệu quả thì cũng có nghĩa chúng ta đang sử dụng nguồn lực to
1
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
6 lần xem

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – thực tiễn tại Bộ Thông tin và Truyền thông. Luận văn được chia thành 2 chương được trình bày như sau: Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước; Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông..

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………/………… BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LƢƠNG QÚI THĂNG THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC – THỰC TIỄN TẠI BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60340403 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI - 2017 Công trình đƣợc hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. BÙI THỊ THANH THÚY Phản biện 1:………………………………………………………………. ……………………………………………………………….. Phản biện 2:………………………………………………………………. ……………………………………………………………….. Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp …....., Nhà...... - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Số:77 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 201... Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải đối mặt, cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp của Việt Nam. Trong hệ thống các doanh nghiệp, hoạt động của DNNN ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, mô hình này đã đạt được những kết quả nhất định, là công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả của Nhà nước. Về cơ bản, các DNNN đã nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế, quy mô vốn liên tục tăng, khẳng định vai trò cụ thể của mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Các DNNN không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước; góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp không nhỏ vào nguồn thuế, tạo nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế... mà còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh... Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các DNNN ở Việt Nam có không ít tiêu cực, làm dấy lên hoài nghi về vai trò thực tế của nó, không chỉ về hiệu quả kinh tế mà các tập đoàn kinh tế nhà nước gặp phải không ít khó khăn, thách thức và nhiều vấn đề nảy sinh như: Một là, mục tiêu, hiệu quả hoạt động của các DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư. Nhiều tập đoàn kinh tế thay vì phải tập trung vào ngành nghề chính, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế và chính trị trọng yếu của kinh tế nhà nước, lại mở rộng quy mô đầu tư ngoài ngành trong khi thực tế năng lực tài chính lại hạn chế. Chẳng hạn, một số tập đoàn thiếu vốn cho ngành chính nhưng vẫn mở rộng sang các ngành nghề rủi ro khác như tài chính, ngân hàng, bất động sản, từ đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội của quốc gia. Hai là, công tác giám sát, kiểm soát hoạt động các DNNN còn nhiều hạn chế dẫn đến không phát hiện kịp thời để có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu tổn thất trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt là kiểm soát việc quản lý sử dụng tài sản công trong các DNNN hiện nay thiếu những thiết chế hữu hiệu và hành lang pháp lý điều chỉnh một cách toàn diện, kịp thời. Sự tăng trưởng của nền kinh tế đòi hỏi phải huy động tối đa mọi nguồn lực, trong đó tài sản công được coi là một nguồn lực quan trọng và cần thiết, nhất là trong điều kiện đất nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững. Do vậy nếu không đặt vấn đề quản lý tài sản công một cách có hiệu quả thì cũng có nghĩa chúng ta đang sử dụng nguồn lực to 1 lớn của quốc gia một cách lãng phí và cũng là khe hở cho nạn tham nhũng, biển thủ tài sản công... Trong thời kỳ bao cấp, công tác quản lý tài sản công thiếu chặt chẽ, đất đai, nhà xưởng, tài sản còn bị sử dụng lãng phí, thất thoát… đã làm giảm nội lực của nền kinh tế. Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế và xu thế hội nhập đòi hỏi phải thay đổi cơ chế chính sách về quản lý tài sản công, đặc biệt là quản lý tài sản trong các doanh nghiệp nhà nước. Chính vì lý do trên việc nghiên cứu quản lý tài sản công, đặc biệt là xây dựng thể chế để hoàn thiện vấn đề quản lý tài sản trong các DNNN là một vấn đề cấp thiết dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “ Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước – thực tiễn tại Bộ Thông tin và Truyền thông”. 2. Tình hình nghiên cứu Thể chế quản lý nhà nước và thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý. Có thể kể một số công trình nghiên cứu có những liên quan nhất định như sau: Ngô Quang Minh (2001), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN , Nxb Chính trị Quốc gia. Cuốn sách đã làm rõ một số nội dung sau: Quan niệm và quá trình hình thành DNNN ở Việt Nam; Quá trình đổi mới và thực trạng DNNN ở nước ta; Mục tiêu, quan điểm và phương hướng tiếp tục đổi mới DNNN. Phan Đức Hiếu (2003), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Cải cách doanh nghiệp nhà nước, Nxb Tài chính. Sách tập trung nghiên cứu các mô hình đổi mới hoạt động của DNNN như sắp xếp lại, cổ phần hóa DNNN;Chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH một thànhviên;Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước. PGS.TS Nguyễn Văn Thạ (2004), Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia. Cuốn sách đề cập đến lý luận và thực tiễn trong việc nhận thức vấn đề sở hữu ở Việt Nam, thực trạng sở hữu doanh nghiệp nhà nước và đất đai ở Việt Nam. PGS.TS Lê Hồng Hạnh chủ biên (2004), Cổ phần hóa DNNN- những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia ấn hành. Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến các khía cạnh đa dạng của DNNN như: DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN; Những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CPH DNNN và hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN. Đề tài nghiên cứu khoa học của TS. Trang Thị Tuyết tại Học viện Hành chính Quốc gia: Một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với doanh nghiệp ở Việt Nam (2004), đã làm rõ cơ sở lý luận về QLNN đối với doanh nghiệp. Đề tài trình 2 bày chi tiết về thực trạng QLNN đối với DNNN, nêu rõ những tồn tại, khó khăn và đưa ra nhiều giải pháp hoàn thiện QLNN đối với DNNN. Ths. Nguyễn Văn Tuấn, Quản lý tài sản công ở nước ta hiện nay: thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số tháng 7/2016. Nhóm những công trình nghiên cứu liên quan đến thể chế và thể chế quản lý nhà nước ở các lĩnh vực khác nhau: - Giáo trình “ Hành chính công” của Học viện Hành chính , (2012) Nhà xuất bản Giáo dục. Chương 3 của Giáo trình trình bày những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thể chế hành chính nhà nước - Một số luận án tiến sĩ cũng có đề cập đến vấn đề này như Luận án tiến sĩ quản lý công “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, năm 2017; Luận án kinh tế: “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế” của Trần Anh Tuấn, Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007 và Luận án quản lý hành chính công của Bùi Thị Ngọc Hiền: “ Nâng cao năng lực thể chế hành chính nhà nước để thích ứng với kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay” ( 2014). Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn đối với đề tài. Tuy nhiên, có thể thấy rằng đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước. Do đó đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước - từ thực tiễn Bộ Thông tin và Truyền thông” là một đề tài không trùng lặp, mang tính lý luận và thực tiễn cao, đòi hỏi cần được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ hơn. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích: làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước nói chung từ đó đánh giá được thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông. 3.2. Nhiệm vụ - Làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm tài sản công trong các DNNN; khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố cấu thành của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước; - Phân tích, đánh giá thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông để chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng. 3 - Đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước dưới hai góc độ: hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN. - Phạm vi về địa bàn nghiên cứu ở Bộ Thông tin và Truyền thông. - Thời gian nghiên cứu trong đề tài được xác định từ năm 2012 đến nay. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp cụ thể khác như phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, gắn lý luận với thực tiễn và dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước. 6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn - Trên cơ sở các luận điểm khoa học, luận văn đã xây dựng khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước; chỉ ra đặc điểm, vai trò và các yếu tố thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước. - Luận văn đánh giá khách quan và chỉ ra những thành tựu, tập trung làm rõ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước. Từ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước hiện hành tại Bộ Thông tin và Truyền thông, luận văn đã chỉ ra và phân tích kỹ các nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện. - Đưa ra các quan điểm, kiến nghị phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1. Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước . Chương 2. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nƣớc và tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nƣớc 1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Kể từ 1-7-2015, theo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi): “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” ( Khoản 8 Điều 4). Sự thay đổi này được xem là sự cải cách về quan điểm để dẫn đến thay đổi về vốn và quản trị. Với hướng tiếp cận “cởi trói” cho doanh nghiệp và tuân theo các cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp của nhà nước, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định chỉ những doanh nghiệp nào do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là DNNN, tức là hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế Nhà nước”. Từ quan niệm trên có thể xem xét một số đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước như sau: - Chủ đầu tư: là Nhà nước. - Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%). - Hình thức tồn tại: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập. - Mô hình quản lý: DNNN được tổ chức chức dưới hình thức công ty TNHH theo một trong hai mô hình quản lý bao gồm: (1) Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên hoặc (2) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên. - Trách nhiệm tài sản: Nhà nước chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Mục đích hoạt động: thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hoạt động công ích. Ứng với hai mục đích trên là có hai loại DNNN khác nhau. DNNN hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. DNNN hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh. 5 1.2.2. Khái niệm tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước Tài sản công cũng được hiểu là những tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước. Trong phạm vi luận văn đề cập đếnTSC trong các DNNN. Từ sự phân tích trên có thể đi đến khái niệm tài sản công trong các DNNN là các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước được giao cho các DNNN quản lý và sử dụng vào mục đích kinh doanh và phục vụ công ích xã hội. Cụ thể chia thành hai nhóm: - Tài sản công đã được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. - Tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản dự án. 1.2. Những vấn đề chung về thể chế quản lý nhà nƣớc đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nƣớc 1.2.1. Khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm “thể chế” ở góc độ: hệ thống các quy định pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước vận hành các quy định đó. Mặt khác, xuất phát từ lý luận về quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN để có những định hướng cho việc hoàn thiện thể chế này nên luận văn chỉ tập trung vào những yếu tố chính thức của thể chế (quy phạm pháp luật) mà không đề cập đến các yếu tố phi chính thức (đường lối, chính sách…). Trong phạm vi luận văn, tiếp cận khái niệm QLNN ở nghĩa hẹp, cụ thể là quản lý hành chính nhà nước. Với những phân tích trên, có thể hiểu: Thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong DNNN là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vận hành các quy định pháp luật về QLNN đối với tài sản công trong các DNNN một cách thống nhất nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển doanh nghiệp theo yêu cầu kinh tế đất nước. Từ khái niệm trên, có thể xem xét một số đặc điểm cơ bản của thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN như sau: Một là, thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN là một chỉnh thể thống nhất bao gồm hai bộ phận hợp thành: tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TSC trong các DNNN và hệ thống quy phạm pháp luật vận hành các tổ chức bộ máy QLNN đó. Hai là, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN là một bộ phận của thể chế QLNN nói chung.Vì thế, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN nằm trong một chỉnh thể thống nhất và có mối quan hệ khăng khít với các lĩnh vực khác của thể chế QLNN. Ba là, thể chế QLNN đối với QLNN đối với TSC trong các DNNN được xây dựng nhằm mục đích tác động làm thay đổi các quan hệ xã hội, giúp môi trường kinh 6 tế hình thành, phát triển lành mạnh. Vai trò thể chế quản lý nhà nƣớc đối với TSC trong các DNNN Thứ nhất, thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các DNNN xây dựng khung pháp lý để quản lý, sử dụng TSC có hiệu quả Thứ hai, góp phần phòng ngừa, ngăn ngừa, xử lý vi phạm pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý,sử dụng TSC trong các DNNN Thứ ba, góp phần xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN về TSC trong DNNN hoạt động thống nhất, hiệu quả Thứ tư, thể chế QLNN đối với TSC trong các DNNN quyết định đến sự phát triển các DNNN 1.2.2. Các yếu tố cấu thành thể chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước 1.2.2.1. Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước Bộ máy quản lý nhà nước về TSC trong các DNNN là hệ thống các cơ quan công quyền từ trung ương đến các địa phương do nhà nước thành lập để thực thi hoạt động QLNN đối với TSC. Bộ máy nhà nước được phân cấp, phân công trên cơ sở các định chế nhà nước và các cơ chế quản lý đã được thiết lập. Bộ máy ở cấp này vừa là chủ thể quản lý của cấp đó vừa là đối tượng quản lý của các cấp trên cao hơn. Mỗi kiểu tổ chức bộ máy quản lý đều ứng với một kiểu thể chế nhà nước và cơ chế vận hành. Có thể nói, mỗi một thể chế nhà nước và cơ chế quản lý nào thì có bộ máy tổ chức quản lý tương ứng. Theo đó, Chính phủ là cơ quan quản lý thống nhất về TSC nói chung và TSC trong các DNNN nói riêng. Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối quản lý nhànướcvề công sản với đơn vị chịu trách nhiệm chính là Cục quản lý Công sản. Ở cấp Trung ương, các bộ và cơ quan ngang bộ đều có bộ phận thực hiện chức năng quản lý TSC trong các DNNN nằm ở các phòng khác nhau (Phòng nghiệp vụ, Phòng Kế hoạch tài chính, Phòng Kế toán tài chính, Phòng Hành chính - Tổng hợp…). Ở cấp địa phương, UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý thống nhất về công sản trong phạm vi địa phương mình. UBND cấp tỉnh giao cho SởTài chínhchịu tráchnhiệmvới bộ phậngiúp việc là Phòng Quản lý công sản hoặc Phòng Quản lý giá - Công sản hoặccũng có địaphươnglàPhòngHành chính sự nghiệp trực thuộc Sở Tài chính. Ngoài ra xuất phát từ đặc thù, liên quan đến quản lý vốn nhà nước chúng ta còn có mô hình Tổng công ty đầu tư và quản lý vốn nhà nước (SCIC). 1.2.1.2. Hệ thống quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước Căn cứ vào hệ thống các quy định pháp luật đối với TSC trong các DNNN hiện nay chúng ta có chia thành những nội dung cơ bản về quản lý tài sản công trong các 7 DNNN như sau: (1) Hệ thống quy định pháp lý về phân công, phân cấp trong quản lý TSC trong các DNNN (2) Hệ thống quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm 14 Điều (Từ Điều 22 đến Điều 35 Luật DN 2014). Nội dung bao gồm: Vốn điều lệ; huy động vốn; đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định; các nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản cố định, nợ phải thu, nợ phải trả; quy định việc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, đầu tư vốn của doanh nghiệp ra nước ngoài, chuyển nhượng vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; quy định nguyên tắc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp và quy định việc bảo toàn vốn của doanh nghiệp. (3) Quy định pháp lý về cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 1.3. Kinh nghiệp một số quốc gia trên thế giới về thể chể quản lý nhà nƣớc đối với tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nƣớc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 1.3.1. Kinh nghiệp một số quốc gia trên thế giới Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc xây dựng mô hình quản lý tài sản nhà nước tập trung thông qua việc thiết lập hệ thống Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước (SASAC) ở cả cấp Trung ương và các địa phương. SASAC được thành lập tháng 3/2003 với tư cách là cơ quan cấp bộ đặc biệt thuộc Chính phủ Trung Quốc. Nhiệm vụ chính của SASAC vừa là đại diện chủ sở hữu của các DNNN, hoặc cổ đông nhà nước của các doanh nghiệp có vốn nhà nước, vừa giám sát để giải quyết các vấn đề trong hoạt động hàng ngày tại các DNNN, tập đoàn kinh tế nhà nước trên 3 lĩnh vực: giám sát về nhân sự chủ chốt, giám sát các vấn đề trọng yếu của doanh nghiệp và giám sát tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Hiện tại, SASAC có khoảng 600 cán bộ theo dõi 146 tập đoàn kinh tế và các tổng công ty. SASAC có xu hướng bảo hộ cho cho các DNNN duy trì sức mạnh độc quyền và ngày càng mở rộng hơn để gia tăng tầm ảnh hưởng của mình. Với sự tồn tại của SASAC, các DNNN độc quyền chậm thay đổi khi mà họ vẫn tiếp tục được hưởng ưu đãi từ những nguồn lực có lợi cho mình và như vậy, các DNNN và các doanh nghiệp khối tư nhân không thể cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng. Một ví dụ điển hình là năm 2009, khi Bộ Thương mại cảnh báo kế hoạch sáp nhập China Unicom và China Netcom (2 doanh nghiệp đầu ngành về viễn thông do SASAC quản lý) sẽ vi phạm luật chống độc quyền, SASAC đã nhanh chóng giải vây cho 2 doanh nghiệp của mình bằng lý luận rằng, việc sáp nhập và tái cấu trúc các DNNN không nằm dưới sự chi phối của luật chống điều hành của Bộ Thương mại. 8 Indonesia Tại Indonesia, trước khi thành lập bộ chuyên trách quản lý DNNN, việc quản lý DNNN được phân chia giữa Bộ Tài chính và bộ quản lý ngành. Trong đó, Bộ Tài chính được giao quyền quyết định những vấn đề có liên quan đến tài chính của DNNN, còn bộ chuyên ngành kỹ thuật được giao quyền quản lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của DNNN. Mặc dù đã có sự phân định nhất định về quyền, trách nhiệm giữa Bộ Tài chính và bộ chuyên ngành kỹ thuật, nhưng vẫn tồn tại nhiều chồng chéo, trùng lắp trong thực hiện quyền, trách nhiệm giữa hai bộ này do các vấn đề tài chính và hoạt động của doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đến năm 2001, Bộ Đầu tư và Phát triển DNNN được khôi phục và năm 2004 được đổi tên thành Bộ DNNN. Singapore Temasek (Singapore) là tổ chức kinh doanh vốn đầu tư nhà nước hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp. Temasek, bên cạnh Tổng công ty Đầu tư vốn của Chính phủ (CIIC), được Chính phủ Singapore cấp vốn để đầu tư vào các doanh nghiệp khác. Việc cấp vốn cho hai doanh nghiệp này được thực hiện thông qua Bộ Tài chính trên cơ sở dự toán đầu tư vốn đã được Quốc hội phê chuẩn. Ngoài đặc điểm là tập đoàn do Nhà nước đầu tư vốn, Temasek hoạt động như một tập đoàn tư nhân và được khẳng định là một nhà đầu tư và một cổ đông năng động. Những ưu thế về thể chế pháp trị minh bạch, cơ chế thị trường hiện đại, cộng với tính kỹ trị và tính chuyên nghiệp cao, đã tạo điều kiện cho Temasek phát triển, uy tín ngày càng cao trong cộng đồng kinh doanh và tài chính, không chỉ trong nước mà còn vươn ra toàn cầu. Malaysia Khazanah là tổ chức đầu tư vốn nhà nước có cơ cấu gồm công ty mẹ (Khazanah Nasional Berhad), các công ty con và các công ty có cổ phần, vốn góp của công ty mẹ. Khazanah Nasional Berhad được giao thực hiện các chức năng, nhiệm vụ: quản lý các khoản vốn đầu tư do Chính phủ Malaysia giao; thực hiện các khoản đầu tư mới trong các ngành, lĩnh vực mang tính chiến lược, lĩnh vực công nghệ cao và tìm kiếm các khoản đầu tư chiến lược ở nước ngoài; quản lý có hiệu quả vốn, tài sản của Chính phủ Malaysia tại các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khác (trừ Tập đoàn Petronas và một số DNNN do Chính phủ trực tiếp quản lý). 1.3.2. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam Thứ nhất, về phạm vi đầu tư vốn: Hoạt động đầu tư vốn Nhà nước nên tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm hoặc những ngành những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, các công ty tư nhân không có khả năng đầu tư, hoặc không muốn đầu tư do khả năng thu hồi vốn chậm, tỷ suất đầu tư thấp như giao thông vận tải, Truyền thông, năng lượng an ninh quốc phòng. Thứ hai, về thẩm quyền cấp vốn đầu tư: Các DNNN cần làm rõ đối với trường hợp đầu tư trực tiếp hay gián tiếp. 9 Thứ ba, về phân phối lợi nhuận của DNNN và DN có vốn Nhà nước, cần phải được cụ thể hóa. Tuy nhiên, chính sách cổ tức có thể thay đổi hằng năm tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, tình hình tài chính, điều kiện của thị trường, tình hình kinh tế nói chung và các yếu tố khác, bao gồm cả phân tích cơ hội đầu tư và nhu cầu tái đầu tư của DN, tiền mặt và yêu cầu về vốn; khả năng vay nợ, triển vọng kinh doanh… Bên cạnh đó, việc phân chia lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ cần thiết theo quy định thì được chia cho các cổ đông dựa vào tỷ lệ vốn góp. Do đó, lợi nhuận từ các DN có vốn đầu tư Nhà nước nên chuyển một phần về NSNN, một phần chia về các quỹ (Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN…). Thứ tư, về thoái vốn đầu tư cần căn cứ vào danh mục các lĩnh vực mang tính quyết định đến vận mệnh kinh tế quốc dân, an ninh an toàn xã hội, căn cứ về hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường tính cạnh tranh trong một ngành nhất định để xác định các lĩnh vực, DN cần được thoái vốn. Thứ năm, giám sát vốn đầu tư cần làm rõ: (i) Vai trò đại diện chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước hay vốn Nhà nước được đem đầu tư; (ii) Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư vốn Nhà nước trên cả các khía canh về lợi nhuận, hiệu quả gián tiếp về kinh tế, xã hội; (iii) Xây dựng bộ tiêu chí giám sát hoạt động đầu tư của DN như: Giám sát Hội đồng quản trị, cấp quản lý trong đầu tư, giám sát hoạt động đầu tư của công ty con…; (iv) Đẩy mạnh sự tham gia giám sát của các bên liên quan: Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan và người dân... 10 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC – THỰC TIỄN BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 2.1. Khái quát chung về Bộ Thông tin và Truyền thông và các doanh nghiệp nhà nƣớc tại Bộ Thông tin và Truyền thông 2.1.1. Khái quát chung về Bộ Thông tin và Truyền thông Tháng 8/2007, Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của Bộ Bưu chính, Viễn thông và tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Bộ Văn hóa – Thông tin. Lịch sử ngành Thông tin và Truyền thông Việt Nam lại bước sang một trang mới. Việc thành lập Bộ Thông Tin và Truyền thông thể hiện tư duy mới trong quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng tinh gọn bộ máy quản lý hành chính, tăng tính trách nhiệm và hiệu quả quản lý phù hợp với xu thế phát triển và hội tụ giữa công nghiệp nội dung và hạ tầng Truyền thông của thế giới. Mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, Internet trong nước, quốc tế, thông tin hàng hải và truyền báo luôn đảm bảo an toàn thông tin trong hoàn cảnh khó khăn do lũ, lụt, thiên tai. Thông tin liên lạc từ Trung ương đến địa phương luôn được thông suốt, phục vụ tốt các hoạt động, sự kiện lớn của đất nước cũng như công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. 2.1.2. Thực trạng doanh nghiệp nhà nước và tài sản công trong các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông 2.1.2.1. Khái quát tình hình các doanh nghiệp nhà nước tại Bộ Thông tin và Truyền thông Đến thời điểm hiện nay, có Bộ Thông tin và Truyền thông có 4 doanh nghiệp nhà nước. Đó là : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Viễn thông MobiFone, Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam (VTC), Tổng công ty Bưu điện Việt Nam. (1)Tổng công ty Viễn thông MobiFone MobiFone được thành lập ngày 16/04/1993 với tên gọi ban đầu là Công ty thông tin di động. Ngày 01/12/2014, Công ty được chuyển đổi thành Tổng công ty Viễn thông MobiFone, trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, kinh doanh trong các lĩnh vực: dịch vụ viễn thông truyền thống, VAS, Data, Internet & truyền hình IPTV/cable TV, sản phẩm khách hàng doanh nghiệp, dịch vụ công nghệ thông tin, bán lẻ và phân phối và đầu tư nước ngoài.

Tài liệu liên quan