Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay

Đăng ngày 7/15/2019 6:39:21 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 7 | Page: 25 | FileSize: 0.71 M | File type: PDF
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay. Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương cụ thể như: Cơ sở khoa học về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý; Thực trạng tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ; Phương hướng, giải pháp tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………../………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG
TO NGUN N CÔNG CHC LÃNH ĐẠO, QUN
B NI V HIN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUN LÝ CÔNG
Mã s: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DN KHOA HC: PGS.TS NGUYN TH THU
NỘI, NĂM 2017
MỞ ĐẦU
1. do chọn đề tài luận văn
Trong quá trình xây dng và phát triển đất nước, phnViệt Nam, trong đó
đội ngũ nữ cán b, công chc, viên chc đã và đang có đóng góp to lớn trên các lĩnh
vc và tng vtrí công tác. Nhn thức và đánh giá đúng vị trí, vai trò ca phn,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phnữ, chăm lo, tạo điều kiện để
bảo đảm quyền bình đẳng ca phn, phát huy vai trò ca phntrên tt ccác lĩnh
vc chính tr, kinh tế, văn hóa, xã hội; đồng thi khẳng định vic xây dng, phát trin
vng chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng vi vai trò to ln ca phnlà yêu cu
khách quan, là ni dung quan trng trong chiến lược công tác cán bcủa Đảng. Do
đó, công tác cán bộ nthời gian qua đã đạt được nhiu kết qutích cc.
Tuy nhiên, trước yêu cu ca công cuc công nghip hóa, hiện đại hóa đất
nước và hi nhp quc tế, công tác cán bncòn nhiu mt hn chế, đồng thi có
nhng vấn đề mới đặt ra vi nhiu thách thc. Thi gian va qua, tlntham gia
lãnh đạo, qun lý đạt thp, ngun cán bnhng ht ti nhiu vtrí. So vi nam gii
trên tt cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, vtrí càng cao thì tlnữ lãnh đạo, qun
lý càng thp. Do đó, tạo ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý trthành mt yêu cu
cp thiết, là nhim vcần được đặt lên hàng đầu trong công tác cán bnti các cp,
các ngành, trong đó có Bộ Ni v.
Ti BNi vhin nay, tlncông chức tham gia lãnh đạo, qun lý còn
thấp, chưa tương xứng với năng lực và sphát trin của đội ngũ công chức, viên
chc ca B, ngun cán bnhng ht nhiu vị trí lãnh đạo, qun lý và thiếu ht
ngun ncông chc, viên chức để quy hoạch, đào tạo đủ điều kin, tiêu chun b
nhim các chức danh lãnh đạo, quản lý; trong khi đó, các biện pháp to ngun cán b
nữ chưa được thc hin một cách đồng bộ, chưa có chiến lược to nguồn lâu dài đối
vi ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý ti B. Vì vy, cn thiết phi có mt
nghiên cu toàn din vto ngun ncông chức lãnh đạo, quản lý, để từ đó đề ra các
gii pháp thích hp nhm to ngun, nâng cao tlncông chức lãnh đạo, qun lý
BNi vụ, đạt được mục tiêu tăng cường phntham chính theo chủ trương của
Đảng và Nhà nước.
Xut phát ttình hình nêu trên, tôi chn vấn đề “To ngun n công chc lãnh
đạo, qun B Ni v hin nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản
lý công vi mong mun góp phn làm rõ nhng vấn đề lý lun và thc tiễn, thúc đẩy
vic to ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý BNi vụ đạt kết qutt.
2. Tình hình nghiên cu liên quan đến đề tài luận văn
Đã có nhiu công trình nghiên cu vcông tác cán bcủa Đảng, trong đó có
to ngun cán bộ lãnh đạo, qun lý; là cơ sở quan trọng để Luận văn kế thừa để vn
dng làm rõ vai trò của đội ngũ nữ công chc lãnh đạo, qun lý và nhng yêu cầu đặt
ra trong to ngun cán bn. Các nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm, nhận định,
1
gii pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nghiên cứu
chuyên sâu, hthng, toàn din vto ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý nói
chung và BNi vnói riêng. Do đó, Luận văn tiếp tc nghiên cứu để hoàn thin
khung lý lun vto ngun cán bnói chung và to ngun ncông chc lãnh đạo,
qun lý nói riêng nhằm đề xut nhng giải pháp thúc đẩy công tác to ngun ncông
chc lãnh đạo, qun lý BNi v.
3. Mục đích nhiệm v ca luận văn
- Mục đích: Làm rõ nhng vấn đề lý lun và thc tin ca vic to ngun n
công chức lãnh đạo, qun lý BNi vhiện nay; đề xut nhng gii pháp chyếu
nhằm đẩy mnh vic to ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý BNi v.
- Nhim v: Tng quan nhng vấn đề cơ bản vcông tác cán bnvà to
ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý hin nay; phân tích thc trng to ngun n
công chức lãnh đạo, qun lý BNi v; đưa ra gii pháp, khuyến nghnhm to
ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý BNi v.
4. Đối tƣợng phm vi nghiên cu ca luận văn
- Đối tượng nghiên cu: Ncông chc lãnh đạo, qun lý BNi v.
- Phm vi nghiên cu:
Nghiên cu vic to ngun ncông chức lãnh đạo,
qun lý BNi vụ (giai đoạn từ năm 2011 đến nay) tngun ncông chc, viên
chc hin có BNi v; tp trung vào các khâu ca công tác cán bgm quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, btrí, bnhiệm, điều động, luân chuyn.
5. Phƣơng pháp luận phƣơng pháp nghiên cu ca luận văn
- Phương pháp luận: Da trên cơ sở phương pháp luận bin chng duy vật để
nghiên cu nhng vấn đề lý lun và thc tin ca công tác to ngun ncông chc
lãnh đạo, qun lý BNi vhin nay.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thp thông tin tcác ngun có
sẵn liên quan đến đề tài nghiên cu; phương pháp phân tích, tng hợp, đối chiếu, so
sánh và thng kê.
6. Ý nghĩa luận thc tin ca luận văn
- Ý nghĩa luận: Bsung làm phong phú thêm vhthng lý lun trong qun
lý nhà nước vcông tác cán bộ, trong đó có công tác cán bộ n.
- Ý nghĩa thực tin: Hthng các vấn đề cơ bản vto ngun ncông chc
lãnh đạo, qun lý; phân tích thc trng vto ngun ncông chức lãnh đạo, qun lý
BNi vụ, trên cơ sở đó đề tài đề xuất phương hướng và mt số đề xut nhng gii
pháp phù hp vto ngun ncông chc lãnh đạo, qun lý BNi v.
7. Kết cu ca luận văn
Ngoài phn mở đầu, kết lun, tài liu tham kho, ni dung chính ca luận văn
gồm 3 chương:
2
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
7 lần xem

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay. Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương cụ thể như: Cơ sở khoa học về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý; Thực trạng tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ; Phương hướng, giải pháp tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay..

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ………../……… BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG TẠO NGUỒN NỮ CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở BỘ NỘI VỤ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ HÀ NỘI, NĂM 2017 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, phụ nữ Việt Nam, trong đó đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đã và đang có đóng góp to lớn trên các lĩnh vực và từng vị trí công tác. Nhận thức và đánh giá đúng vị trí, vai trò của phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phụ nữ, chăm lo, tạo điều kiện để bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; đồng thời khẳng định việc xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Do đó, công tác cán bộ nữ thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, công tác cán bộ nữ còn nhiều mặt hạn chế, đồng thời có những vấn đề mới đặt ra với nhiều thách thức. Thời gian vừa qua, tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đạt thấp, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt tại nhiều vị trí. So với nam giới trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, ở vị trí càng cao thì tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý càng thấp. Do đó, tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý trở thành một yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ cần được đặt lên hàng đầu trong công tác cán bộ nữ tại các cấp, các ngành, trong đó có Bộ Nội vụ. Tại Bộ Nội vụ hiện nay, tỷ lệ nữ công chức tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của đội ngũ công chức, viên chức của Bộ, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt ở nhiều vị trí lãnh đạo, quản lý và thiếu hụt nguồn nữ công chức, viên chức để quy hoạch, đào tạo đủ điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý; trong khi đó, các biện pháp tạo nguồn cán bộ nữ chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa có chiến lược tạo nguồn lâu dài đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý tại Bộ. Vì vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu toàn diện về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý, để từ đó đề ra các giải pháp thích hợp nhằm tạo nguồn, nâng cao tỷ lệ nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ, đạt được mục tiêu tăng cường phụ nữ tham chính theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Xuất phát từ tình hình nêu trên, tôi chọn vấn đề “Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý công với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, thúc đẩy việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ đạt kết quả tốt. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác cán bộ của Đảng, trong đó có tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý; là cơ sở quan trọng để Luận văn kế thừa để vận dụng làm rõ vai trò của đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý và những yêu cầu đặt ra trong tạo nguồn cán bộ nữ. Các nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm, nhận định, 1 giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý nói chung và ở Bộ Nội vụ nói riêng. Do đó, Luận văn tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện khung lý luận về tạo nguồn cán bộ nói chung và tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý nói riêng nhằm đề xuất những giải pháp thúc đẩy công tác tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay; đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. - Nhiệm vụ: Tổng quan những vấn đề cơ bản về công tác cán bộ nữ và tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý hiện nay; phân tích thực trạng tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ; đưa ra giải pháp, khuyến nghị nhằm tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu: Nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ (giai đoạn từ năm 2011 đến nay) từ nguồn nữ công chức, viên chức hiện có ở Bộ Nội vụ; tập trung vào các khâu của công tác cán bộ gồm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn - Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay. - Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu; phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh và thống kê. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Ý nghĩa lý luận: Bổ sung làm phong phú thêm về hệ thống lý luận trong quản lý nhà nước về công tác cán bộ, trong đó có công tác cán bộ nữ. - Ý nghĩa thực tiễn: Hệ thống các vấn đề cơ bản về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý; phân tích thực trạng về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ, trên cơ sở đó đề tài đề xuất phương hướng và một số đề xuất những giải pháp phù hợp về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: 2 - Chương 1: Cơ sở khoa học về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý - Chương 2: Thực trạng tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ - Chương 3: Phương hướng, giải pháp tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TẠO NGUỒN NỮ CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1.1. Khái quát chung về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý 1.1.1. Quan niệm về tạo nguồn trong công tác cán bộ Qua nghiên cứu những quan điểm, chủ trương của Đảng về tạo nguồn cán bộ cho thấy: Tạo nguồn trong công tác cán bộ là một quá trình với nhiều hoạt động, từ việc phát hiện, lựa chọn nguồn, từ quy hoạch nguồn đến đào tạo, luân chuyển, bố trí để tạo ra một đối ngũ cán bộ dự bị cho các chức danh theo tiêu chuẩn, điều kiện nhất định, sẵn sàng cho việc bổ sung, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ của Đảng. 1.1.2. Quan niệm về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Vấn đề tạo nguồn nữ lãnh đaọ, quản lý tại Việt Nam là vấn đề đã được đặt ra từ lâu, có thể thống nhất cách hiểu về tạo nguồn công chức lãnh đạo, quản lý, đó là: Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý tại một cơ quan, đơn vị là một hoạt động trong công tác cán bộ, thuộc trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước; là một quá trình gồm nhiều khâu, từ việc xác định tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, đến việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục, bền vững của đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý trên cơ sở bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới. 1.2. Mục đích, yêu cầu của tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý 1.2.1. Mục đích của tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý nhằm mục đích xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ lãnh đạo, quản lý nói chung và nữ công chức lãnh đạo, quản lý nói riêng; chuẩn bị sẵn một lực lượng nữ công chức, viên chức dồi dào về số lượng, bảo đảm về chất lượng, điều kiện, tiêu chuẩn để cấp có thẩm quyền xem xét, bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc tiếp tục được bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3 1.2.2. Yêu cầu của tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Để đạt được mục đích nêu trên, tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý cần bảo đảm những yêu cầu sau: Một là, quán triệt sâu sắc quan điểm xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Hai là, bảo đảm phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, bảo đảm mục tiêu, chỉ tiêu về công tác cán bộ nữ theo chủ trương, quy định của Đảng và Nhà nước. Ba là, tạo nguồn cán bộ nữ cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, chủ động, có kế hoạch, hướng đến mục tiêu trước mắt và lâu dài cho sự phát triển của cơ quan, đơn vị. Bốn là, bảo đảm thực hiện đồng bộ trên tất cả các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển đối với nguồn nữ tại cơ quan, đơn vị. Năm là, tạo nguồn cán bộ nữ cần được đặt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị và của từng ngành, lĩnh vực với những chỉ tiêu, mục tiêu cụ thể để thực hiện trong từng giai đoạn. 1.3. Nội dung của tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Một là, cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý Tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý được cụ thể hóa là hệ thống các tiêu chuẩn cụ thể về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ … bảo đảm cho công chức lãnh đạo, quản lý đó hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; là định hướng quan trọng cho việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý và là mục tiêu phấn đấu của nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý để bảo đảm tiêu chuẩn, hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc phấn đấu để được vào quy hoạch. Hai là, xác định tỷ lệ, cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý và tỷ lệ nữ trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý Cơ cấu đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, đơn vị nói chung gồm các cơ cấu chủ yếu là cơ cấu độ tuổi, chuyên môn, địa bàn, tôn giáo, dân tộc, giới tính…, được xác định trong kế hoạch, chiến lược về công tác cán bộ và trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị trong từng giai đoạn, có ý nghĩa định hướng, thúc đẩy cho hoạt động tạo nguồn. Ba là, quy hoạch nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Quy hoạch nữ công chức lãnh đạo, quản lý là nội dung quyết định thắng lợi của việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý; nhằm tạo cơ hội cho nữ trong quy hoạch khi có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định; là cơ sở, căn cứ để thực hiện các nội dung khác của tạo nguồn cán bộ nữ. 4 Bốn là, đào tạo, bồi dưỡng nữ công chức, viên chức, nữ công chức, viên chức trong diện quy hoạch và nữ công chức lãnh đạo, quản lý Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cần thiết; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, tiêu chuẩn chức danh. Thực hiện tốt nội dung này sẽ tạo ra nguồn nữ bảo đảm chất lượng, điều kiện, tiêu chuẩn để đưa vào quy hoạch, bảo đảm năng lực theo yêu cầu nhiệm vụ. Năm là, điều động, luân chuyển đối với nguôn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Điều động, luân chuyển đốivới nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý để đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, nhằm chủ động chuẩn bị nguồn cán bộ cho cả trước mắt và lâu dài; bảo đảm thực hiện đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý; tạo điều kiện cho cán bộ nữ, cán bộ nữ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn để tiếp tục phát huy vai trò, năng lực tại vị trí hiện giữ hoặc có cơ hội để tiếp tục thăng tiến cao hơn trong tương lai. Sáu là, bố trí, thực hiện chính sách đặc thù đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Bố trí và xây dựng, thực hiện chính sách đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý là nội dung rất cần thiết của việc tạo nguồn cán bộ nữ. Thực hiện tốt nội dung này sẽ phát huy sức mạnh của nguồn nữ, thúc đẩy việc thực hiện những nội dung tạo nguồn khác đạt kết quả. Bảy là, việc tự học, tự rèn luyện của nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Nội dung này yêu cầu nguồn nữ cần tích cực và không ngừng tự giác học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt, bảo đảm năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống để có cơ hội, điều kiện phát triển. 1.4. Kinh nghiệm tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở một số quốc gia trên thế giới Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm trong việc tạo nguồn nữ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan Nhà nước của các quốc gia trên thế giới, học viên nhận thấy rằng nội dung, phương thức tạo nguồn của các nước có nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là khác so với Việt Nam. Yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt đó là quan điểm về thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, quan điểm về tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý của các nước so với Việt Nam. Tuy nhiên, việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ có thể tiếp tục được nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp từ kinh nghiệm xây dựng, phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý nói chung, nữ lãnh đạo, quản lý nói riêng của một số quốc gia sau đây: 5 Tại Pháp, công chức làm việc không chỉ có pháp quy về chuyên môn mà còn được bảo đảm về pháp luật từ địa vị xã hội, vị trí, đến quyền lợi và nghĩa vụ. Để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo trong công vụ, công chức phải qua thi tuyển, phải vào học trường hành chính và chỉ được bổ nhiệm vào chức vụ sau khi hoàn thành khóa học. Nữ công chức khi thực hiện thi tuyển các vị trí lãnh đạo, quản lý được thực hiện bình đẳng như nam giới. Chế độ tuyển chọn công chức của Pháp cũng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt giới tính, thành phần xuất thân, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hoá. Pháp là một quốc gia điển hình về việc tăng cường quyền lực chính trị thực tế cho phụ nữ thông qua việc quy định rõ trong Hiến pháp và Luật bầu cử về tỷ lệ phụ nữ trong các danh sách bầu cử vào nghị viện và các vị trí lãnh đạo. Tại Singapore, việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý của Singapore được tiến hành dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ nếu đáp ứng tốt các yêu cầu của vị trí công việc, theo quy định pháp luật; nguyên tắc phù hợp va canh tranh, các cơ quan nhà nước phải đảm bảo lựa chọn, bổ nhiệm những người giỏi và phù hợp nhất so với các yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm, vị trí lãnh đạo. Theo đó, chính sách tuyển chọn nhân tài cho hệ thống công vụ của Singapore mang tính "mở" rất cao, với nguyên tắc cơ bản là "Tuyển chọn và bổ nhiệm phải trên cơ sở thực tài và cạnh tranh cao", nguyên tắc này được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tái thiết và phát triển đất nước của Singapore. Tại Nhật Bản, Nhật Bản coi trọng quy hoạch công chức lãnh đạo, quản lý. Quy hoạch về công chức của Nhật Bản rất khoa học, đội ngũ cán bộ lãnh đạo là những người rất ưu tú, tư chất và năng lực này được quyết định bằng những kỳ thi tuyển nghiêm túc và những khóa đào tạo liên tục sau khi được tuyển dụng. Hàng năm, Viện nhân sự - một cơ quan độc lập với các Bộ mở 3 kỳ thi, đó là kỳ thi tuyển chọn quan chức nhà nước loại I (cấp cao) và kỳ thi tuyển chọn quan chức loại II và loại III, việc quyết định người trúng tuyển không có ưu tiên dành cho nữ mà tuyển chọn công chức theo năng lực gắn với hệ thống Quản lý nguồn nhân lực theo năng lực. Tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đề cao ý tưởng bình đẳng giữa nam và nữ và có một tổ chức được thành lập và bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ. Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định về đào tạo và lựa chọn cán bộ nữ, tiêu chí nữ lãnh đạo, quản lý đã trở thành một chỉ số được sử dụng để đánh giá trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo quan chức cầm quyền trong việc chỉ đạo thực hiện công tác này. Trong tuyển chọn, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành “Điều lệ tuyển chọn, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ lãnh đạo Đảng và chính quyền”, trong đó xác định mục tiêu của công tác cán bộ là xây dựng chế độ tuyển chọn, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền một cách quy phạm và khoa học. Một trong những khâu mà Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức coi trọng trong công tác cán bộ đó là công tác quy hoạch. Trong các văn bản chính thức đã ban hành, Đảng Cộng sản Trung Quốc ít dùng khái niệm “quy hoạch 6 cán bộ” như ở Việt Nam mà dùng khái niệm “bố trí tài nguyên nhân tài”, “sắp xếp tài nguyên cán bộ”. Từ kinh nghiệm của một số quốc gia tiêu biểu nêu trên, cho thấy những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam nói chung và tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ nói riêng, đó là: Một là, cam kết chính trị và chính sách phù hợp là điều kiện tiên quyết cho sự tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Để thực hiện cam kết, việc quy định về tỷ lệ giới tính trong các danh sách bầu cử và dành các vị trí lãnh đạo nhất định cho phụ nữ trong bộ máy chính trị là một trong những biện pháp hữu hiệu, khả thi nhất có thể áp dụng để tăng cường thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Hai là, những cam kết của Đảng và Chính phủ cần cần được cụ thể hóa và thực thi một cách nhất quán trong hệ thống chính sách từ trung ương đến địa phương, với những biện pháp triển khai phù hợp, gắn với những điều kiện thực tế cụ thể và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Ba là, công tác quy hoạch cán bộ cần được coi trọng để có thể chủ động tuyển chọn và bồi dưỡng nguồn tài nguyên cán bộ của Nhà nước; quy hoạch phải gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ để sớm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm họ vào những vị trí xứng đáng để phát huy năng lực và hiệu quả làm việc của họ. Bốn là, phải coi trọng nâng cao năng lực của nguồn nữ, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm chất lượng nguồn nữ để tiến tới thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý bằng hình thức thi tuyển theo nguyên tắc bình đẳng. Năm là, tại những nơi vẫn còn tồn tại định kiến giới về vai trò, năng lực của phụ nữ trong đời sống chính trị, cần không ngừng thực hiện các biện pháp truyền thông, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội để từng bước tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ và đạt được các mục tiêu bình đẳng giới. Chương 2 THỰC TRẠNG TẠO NGUỒN NỮ CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở BỘ NỘI VỤ 2.1. Khái quát đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ 2.1.1. Khái quát về đặc điểm, tình hình của Bộ Nội vụ Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi 7 dưỡng về chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên. 2.1.2. Thực trạng nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ Về số lượng, cơ cấu, theo số liệu thống kê đến tháng 12 năm 2016, Bộ Nội vụ có 57 nữ công chức lãnh đạo, quản lý trong tổng số 186 công chức lãnh đạo, quản lý của Bộ, đạt tỷ lệ 30,65%. Cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý theo chức danh như sau: Thứ trưởng: 01 người; Phó Tổng cục trưởng và tương đương: 01 người; Vụ trưởng và tương đương: 02 người; Phó Vụ trưởng và tương đương: 12 người; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của các đơn vị thuộc Bộ: 03 người; Cấp Vụ trưởng và tương đương của các đơn vị trực thuộc: 08 người; Cấp Phó Vụ trưởng và tương đương của các đơn vị trực thuộc: 30 người. Về chất lượng, về cơ bản, đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý của Bộ đều là những những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực, trình độ chuyên môn vững vàng, phát huy tốt vai trò, năng lực lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu công việc; bảo đảm đủ về điều kiện, tiêu chuẩn theo ngạch, chức danh lãnh đạo, quản lý; có trình độ đại học và trên đại học trở lên. 2.2. Những yếu tố tác động đến việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay 2.2.1. Yếu tố thuận lợi - Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật tạo cơ sở và khung pháp lý cho việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý. - Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ được Ban cán sự đảng Bộ, các cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quan tâm thực hiện. - Đội ngũ nữ công chức, viên chức của Bộ Nội vụ có số lượng đông đảo, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng; có tinh thần tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, tạo nên một nguồn nữ đủ mạnh để thúc đẩy quá trình tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý. - Bộ Nội vụ là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành về hành chính và quản lý nhà nước là những yếu tố thuận lợi của quá trình tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bô Nội vụ hiện nay. 2.2.2. Những khó khăn, thách thức Những định kiến về văn hóa – xã hội, về vai trò giới truyền thống và định kiến về khả năng của phụ nữ trong quản lý nhà nước vẫn còn tồn tại. Những rào cản về thể chế, chính sách có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. Các công cụ về thể chế, chính sách ở Việt Nam chưa đủ cụ thể và mạnh mẽ để thực hiện cam kết chính trị của Đảng 8 và Nhà nước trong việc thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ; chỉ tiêu về giới trong lãnh đạo, quản lý chủ yếu dừng ở mức độ mục tiêu chung, có ý nghĩa khuyến khích phấn đấu chứ chưa phải là những quy định cứng, với những ràng buộc cụ thể hoặc những biện pháp xử lý đối với các trường hợp không đạt chỉ tiêu. - Đặc thù công tác trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của ngành Nội vụ, trước đây là Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, là lĩnh vực khó, phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến con người, vì vậy đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý từ trước tới nay đều đạt thấp, đây là vấn đề mang tính lịch sử và đặc thù trong công tác cán bộ của Bộ. 2.3. Tình hình thực hiện các nội dung tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ hiện nay 2.3.1.Hoạt động cụthểhóatiêuchuẩnchứcdanhcôngchứclãnhđạo,quảnlý Tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý được quy định tại Quyết định số 1204/QĐ-BNV ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã được cụ thể hóa đối với từng chức danh công chức lãnh đạo, quản lý, được áp dụng trong công tác cán bộ của Bộ khi xem xét bổ nhiệm đối với từng chức danh. Nhìn chung, các quy định tương đối rõ ràng, cụ thể, phù hợp với đặc điểm, tình hình của Bộ, tuy nhiên các quy định mới chỉ dừng lại ở tiêu chuẩn chung đối với các chức danh, chưa có sự cụ thể hóa đối với từng chức danh gắn với vị trí việc làm. 2.3.2. Xác định tỷ lệ, cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý và tỷ lệ nữ trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý Bộ đã bước đầu xác định cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý tại Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, trong đó xác định “tăng tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tại Bộ”. Mặc dù chưa có chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu thực hiện về mặt tỷ lệ cán bộ nữ, nhưng qua việc xác định mục tiêu tăng tỷ lệ nữ công chức lãnh đạo, quản lý, công tác tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý cũng được các cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ quan tâm thực hiện, qua đó nữ công chức lãnh đạo, quản lý đã từng bước có sự cải thiện cả về số lượng và chất lượng, tạo nên chất lượng tổng hợp của đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, nguồn nữ công chức, viên chức để quy hoạch, đào tạo đủ điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý ở Bộ còn gặp khó khăn, tỷ lệ nữ trong quy hoạch nhiều chức danh chưa đạt tỷ lệ không dưới 15% như chủ trương của Đảng; tỷ lệ nữ được bổ nhiệm vẫn còn rất thấp. Về độ tuổi, nữ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ cao, khó có khả năng phát triển ở vị trí cao hơn trong khi tỷ lệ nữ cấp phó để kế cận còn hạn chế. 9 2.3.3. Quy hoạch đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định chung của Đảng và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Để tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý, trong hướng dẫn công tác quy hoạch trong từng nhiệm kỳ và hướng dẫn bổ sung quy hoạch hàng năm, Bộ đặt ra chủ trương bảo đảm tỷ lệ nữ trong quy hoạch không dưới 15% theo hướng dẫn tại Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Ban Tổ chức Trung ương. Kết quả, tỷ lệ nữ công chức, viên chức quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, nữ quy hoạch chức danh Vụ trưởng và tương đương nhiệm kỳ 2016 – 2021 tăng hơn so với giai đoạn 2012 – 2016 trên 10%; chức danh Phó Vụ trưởng và tương đương tăng hơn 6%. Tuy nhiên, qua các giai đoạn, tỷ lệ nữ trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý tại Bộ vẫn duy trì ở mức thấp, nhất là tại quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý người đứng đầu. 2.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng nữ công chức, viên chức, nữ công chức, viên chức trong diện quy hoạch và nữ công chức lãnh đạo, quản lý Trên cơ sở quy hoạch, Bộ đã chú trọng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nữ theo tiêu chuẩn, chức danh và theo vị trí việc làm. Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm tình hình của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nữ công chức, viên chức, nữ trong diện quy hoạch khi đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn được cử tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, tiêu chuẩn chức danh, tạo tiền đề quan trọng cho công tác quy hoạch, bổ nhiệm đối với nguồn nữ. Theo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức Bộ Nội vụ giai đoạn 2016 – 2020, Bộ đặt ra yêu cầu bám sát quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong Bộ, đảm bảo 100% cán bộ, công chức được đi đào tạo, bồi dưỡng đủ tiêu chuẩn ngạch và tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời thực hiện ưu tiên cử nữ công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng trong trường hợp số lượng công chức, viên chức đủ tiêu chuẩn, điều kiện đi học nhiều hơn số chỉ tiêu được cử đi học. 2.3.5. Điều động, luân chuyển đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý Thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Luật cán bộ, công chức, Quyết định số 1205/QĐ-BNV ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý và điều động, biệt phái công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, công chức lãnh đạo, quản lý nói chung và nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ nói riêng được thực hiện điều động, luân chuyển theo nguyên tắc giải quyết tốt mối quan hệ giữa điều động, luân chuyển với ổn định và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu; vừa coi trọng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, vừa coi trọng mục đích bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận. 10 Nhìn chung, các quy định về điều động, luân chuyển được quy định và áp dụng chung cho cả đối tượng nam và nữ, thời gian luân chuyển nói chung từ 3 năm trở lên; chưa có quy định riêng về điều động, luân chuyển riêng dành đối với nữ cho phù hợp với đặc điểm giới. 2.3.6. Bố trí, thực hiện chính sách đặc thù đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý; khuyến khích, tạo điều kiện cho nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý học tập, rèn luyện nâng cao trình độ Để thúc đẩy tăng tỷ lệ nữ công chức lãnh đạo, quản lý, Ban Cán sự đảng Bộ Nội vụ đã chủ trương thực hiện quy trình bổ nhiệm nữ công chức lãnh đạo, quản lý tại một số đơn vị cụ thể của Bộ; thực hiện ưu tiên bổ nhiệm nữ khi nam và nữ công chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn nhưng có số phiếu tín nhiệm bằng nhau. Việc bố trí, phân công công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo quy định hiện hành trên cơ sở bảo đảm phù hợp giữa quyền hạn và nhiệm vụ được giao với chức danh, chức vụ và ngạch công chức được bổ nhiệm; bảo đảm các điều kiện cần thiết để công chức, viên chức thi hành nhiệm vụ và thực hiện các chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức. Về chính sách đặc thù dành cho nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ, Bộ mới chỉ tổ chức thực hiện theo các quy định chung của Nhà nước về chính sách ưu tiên, khuyến khích, hỗ trợ đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức nói chung; các chính sách riêng, đặc thù đối với nguồn nữ phù hợp với đặc điểm tình hình của Bộ thì mới bước đầu được quy định lồng ghép trong một số lĩnh vực cụ thể, như trong đào tạo, bồi dưỡng là ưu tiên cử nữ công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng trong trường hợp số lượng công chức, viên chức đủ tiêu chuẩn, điều kiện đi học nhiều hơn số chỉ tiêu được cử đi học; trong ưu tiên nữ khi có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam và ngang bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng của nâng lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc. Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ luôn quan tâm dành kinh phí thích đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt cho cán bộ nữ, công tác đào tạo, bồi dưỡng được triển khai với nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực, chú trọng cả đào tạo chuyên ngành, chính trị, đào tạo gắn với bồi dưỡng cập nhật kiến thức, ngoại ngữ, đồng thời đào tạo sau đại học, gắn yêu cầu đào tạo với chức danh quy hoạch. Do đó, về cơ bản đội ngũ nữ công chức, viên chức của Bộ đều được khuyến khích, tạo động lực và điều kiện để học tập nâng cao trình độ, năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ với những hình thức phù hợp. 2.4. Đánh giá chung 2.4.1. Những mặt tích cực Bộ đã quan tâm chỉ đạo và thường xuyên quán triệt thực hiện công tác tạo nguồn cán bộ nữ. 11 Các quy định về tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là cơ sở quan trọng định hướng cho việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý tại Bộ Việc xác định cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện, qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ đối với công tác cán bộ nữ, từng bước cải thiện số lượng và chất lượng của đội ngũ nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ. Công tác quy hoạch nữ công chức lãnh đạo, quản lý cấp Bộ, cấp Vụ được quan tâm chỉ đạo nhằm bảo đảm tỷ lệ theo quy định. Trên cơ sở quy hoạch lãnh đạo, quản lý, nhiều cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận; từng bước thực hiện việc bổ nhiệm, giới thiệu nhân sự để bầu cử theo quy hoạch, khắc phục dần tình trạng quy hoạch mang tính hình thức, tỷ lệ nữ trong quy hoạch có xu hướng tăng dần. Bộ đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý theo tiêu chuẩn ngạch, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với nguồn nữ đã bảo đảm tập trung vào các các điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh lãnh đạo, quản lý, tạo tiền đề cho công tác bổ nhiệm đối với nguồn nữ này được thuận lợi. 2.4.2. Những mặt còn hạn chế, tồn tại Bộ chưa có quy định để cụ thể hóa tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý đối với từng chức danh theo vị trí việc làm, Bộ chưa có các quy định cụ thể về tiêu chuẩn đối với từng chức danh gắn với vị trí việc làm, chưa gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; chưa có quy định về tiêu chuẩn đối với các chức danh công chức lãnh đạo, quản lý đã được phân cấp thẩm quyền cho các đơn vị trực thuộc Bộ; chưa có quy định tiêu chuẩn riêng dành cho nữ công chức lãnh đạo, quản lý phù hợp với đặc thù giới. Chưa xác định tỷ lệ, cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý làm cơ sở cho công tác tạo nguồn, Bộ mới chỉ bước đầu xác định “tăng tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tại Bộ” tại Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chưa có quy định về tỷ lệ, cơ cấu nữ lãnh đạo, quản lý trong cơ cấu công chức lãnh đạo, quản lý tại Bộ; chưa có chủ trương hoặc quy định về tỷ lệ nữ công chức lãnh đạo, quản lý trong công tác cán bộ của Bộ; chưa có chiến lược, quy hoạch cán bộ dài hạn để xác định cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý về độ tuổi, chuyên môn, vị trí. Công tác quy hoạch nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế, chưa đặt trong chiến lược tạo nguồn lâu dài và chưa có quy hoạch riêng dành cho cán bộ nữ 12 Việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển đối với nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế, tỷ lệ nguồn nữ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng còn thấp, tỷ lệ nữ tham gia đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước chưa đạt tỷ lệ từ 30% trở lên theo quy định tại Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nhiều cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để bố trí nữ công chức trong diện quy hoạch giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý theo quy hoạch; còn có biểu hiện hẹp hòi trong bố trí cán bộ nữ tại những vị trí cấp trưởng hoặc giữ vị trí lãnh đạo, quản lý tại những đơn vị chủ chốt, quan trọng của Bộ; tỷ lệ nữ được bổ nhiệm còn thấp; việc điều động, luân chuyển nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý và nữ công chức, viên chức trong diện quy hoạch chưa được quan tâm thực hiện. Cho đến nay, chưa có trường hợp nữ công chức lãnh đạo, quản lý được luân chuyển sang vị trí lãnh đạo, quản lý ở cơ quan, đơn vị hay địa phương khác. 2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại Thứ nhất, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền một số đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ về bình đẳng giới, về vai trò năng lực của phụ nữ còn hạn chế, chưa coi trọng công tác cán bộ nữ. Thứ hai, hệ thống thể chế, chính sách đối với nữ công chức, viên chức và công tác cán bộ nữ chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, chưa tạo động lực thúc đẩy, khuyến khích phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, xã hội và nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Nhà nước. Thứ ba, một số quy định của pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan đến công tác cán bộ còn chưa phù hợp đã dẫn tới những hạn chế về điều kiện và cơ hội phát triển của phụ nữ như vấn đề tuổi nghỉ hưu; tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm… của cán bộ nữ. Thứ tư, việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý chưa có nhiều đổi mới, do đó phương thức tạo nguồn chưa linh hoạt, chưa đa dạng về hình thức tạo nguồn. Thứ năm, việc xác định cơ cấu nữ công chức lãnh đạo, quản lý và quy định tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo quản lý đối với từng chức danh theo vị trí việc làm trong trong các cơ quan nhà nước hiện nay là một vấn đề mới, do đó quá trình thực hiện các nội dung này để định hướng cho việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý ở Bộ Nội vụ còn gặp nhiều khó khăn. Thứ sáu, chưa có đơn vị, bộ phận chuyên trách trong việc hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện công tác cán bộ nữ tại Bộ Nội vụ dẫn đến chất lượng tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý bị hạn chế và chưa đạt kết quả như mong muốn. Thứ bảy, bản thân một bộ phận nữ công chức, viên chức còn biểu hiện an phận, chưa có ý chí phấn đấu vươn lên ; nhiều trường hợp nữ công chức, viên chức chưa có 13 sự chia sẻ, động viên của người chồng và của gia đình; hoặc còn có hiện tượng phụ nữ níu kéo lẫn nhau, gây ra những hạn chế, cản trở đối với việc tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, nhất là tại các khâu quy hoạch, bố trí, luân chuyển bổ nhiệm.

Tài liệu liên quan