Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông

Đăng ngày 7/15/2019 8:35:00 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 6 | Page: 25 | FileSize: 0.44 M | File type: PDF
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông. Luận văn gồm các nội dung sau: Cơ sở lý luận và Thực tiễn quản lý nhà nước về tài nguyên nước; Thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010 - 2015; Định hướng và Giải pháp quản lý Nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
……/……
…/…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
QUANG HỌC
QUẢN NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƢỚC
TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số:
60
34
04
03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC QUẢN CÔNG
1
TÂY NGUYÊN NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thành Lê
-
Học viện Hành chính
Quốc gia
Phản biện 1: TS. Lương Minh Việt – Học viện Hành chính Quốc gia
Phản biện 2: TS. Nguyễn Thanh Nam Giám đốc KH&CN tỉnh Đắk Lắk.
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính
Quốc gia – Phân viện Khu vực Tây Nguyên.
Địa điểm: Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính – Phân
viện Khu vực Tây Nguyên
Số: 51- Đường Phạm Văn Đồng - Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Thời gian: Vào hồi 07h30 ngày 29 tháng 5 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính hoặc trên trang
Web của Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng đối với mọi sự sống trên hành tinh, là điều kiện tồn tại và phát
triển của tự nhiên, kinh tế xã hội. Nước là một loại tài nguyên quí giá và giữ vai trò quan trọng. Hàng loạt tài
liệu khoa học công bố trong nhiều thế kỷ vừa qua trên thế giới đã nói lên điều đó. Khoảng hơn hai trăm năm
trước đây, trong sách “Vân Đài loại ngữ”, nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn đã viết:
"Vạn vật không có nước không thể sống được,
Mọi việc không có nước không thể thành được".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu nói tuyệt vời trong huấn thị của Người tại Hội nghị Thủy lợi toàn
miền Bắc họp tại Bắc Ninh, ngày 14-9-1959 như sau: "Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ
quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh...
Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng
chủ nghĩa xã hội".
Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối
mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v… Do tính chất quan trọng của nước như vậy
nên UNESCO lấy ngày 23/3 hàng năm làm ngày nước thế giới.
Nước là một loại tài nguyên được tái tạo theo quy luật thời gian và không gian. Nhưng ngoài quy
luật tự nhiên, hoạt động của con người đã tác động không nhỏ đến vòng tuần hoàn của nước. Nước ta có
nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2/3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia, mùa khô
lại kéo dài 6-7 tháng làm cho nhiều vùng thiếu nước trầm trọng. Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên nước như tăng dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt
nguồn nước mùa cạn, hạ thấp mực nước ngầm, suy thoái chất lượng nước… Do đó, giữ gìn, bảo vệ tài
nguyên nước, dùng đủ hôm nay, giữ gìn cho ngày mai, là trách nhiệm của toàn xã hội. Mỗi người dân cần
được tuyên truyền sâu rộng về tài nguyên nước, từ đó thấy được nghĩa vụ của mình trong viêc giữ gìn bảo vệ
nguồn tài nguyên quý giá này.
Với lý do thực tế trên đây tôi chọn đề tài “Quản Nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông
cho luận văn cao học ngành Quản lýcông.
Luận văn được giới hạn bởi khía cạnh quản lý nhà nước thông qua việc khảo sát thực tế khai thác, sử
dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước ở tỉnh Đắk Nông. Thông qua sự tham khảo phân tích hệ thống văn bản
pháp quy hiện hành về khai thác, sử dụng, bảo vệ và quản lý nước.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên lãnh thổ Việt Nam chung, trong đó trên địa bàn tỉnh Đắk
Nông nói riêng không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần
phức tạp. Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn
tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát. Đến nay đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc
độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp
chí ở Trung ương và địa phương, như:
Báo cáo “Kết quả thực hiện đề án, điều tra đánh giá nước dưới đất 07 vùng trọng điểm tỉnh Đắk
Nông” Dự án Điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 05 tỉnh Tây Nguyên (2006),
Chủ biên Ông Ngọc Khoát. Thực hiện Liên đoàn địa chất Thủy văn-Địa chất công trình Miền Nam.
3
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
6 lần xem

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông. Luận văn gồm các nội dung sau: Cơ sở lý luận và Thực tiễn quản lý nhà nước về tài nguyên nước; Thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010 - 2015; Định hướng và Giải pháp quản lý Nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông..

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ……/…… BỘ NỘI VỤ …/… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TÔ QUANG HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƢỚC TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG 1 TÂY NGUYÊN – NĂM 2017 Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thành Lê - Học viện Hành chính Quốc gia Phản biện 1: TS. Lương Minh Việt – Học viện Hành chính Quốc gia Phản biện 2: TS. Nguyễn Thanh Nam – Giám đốc KH&CN tỉnh Đắk Lắk. Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính Quốc gia – Phân viện Khu vực Tây Nguyên. Địa điểm: Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính – Phân viện Khu vực Tây Nguyên Số: 51- Đường Phạm Văn Đồng - Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk Thời gian: Vào hồi 07h30 ngày 29 tháng 5 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng đối với mọi sự sống trên hành tinh, là điều kiện tồn tại và phát triển của tự nhiên, kinh tế xã hội. Nước là một loại tài nguyên quí giá và giữ vai trò quan trọng. Hàng loạt tài liệu khoa học công bố trong nhiều thế kỷ vừa qua trên thế giới đã nói lên điều đó. Khoảng hơn hai trăm năm trước đây, trong sách “Vân Đài loại ngữ”, nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn đã viết: "Vạn vật không có nước không thể sống được, Mọi việc không có nước không thể thành được". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu nói tuyệt vời trong huấn thị của Người tại Hội nghị Thủy lợi toàn miền Bắc họp tại Bắc Ninh, ngày 14-9-1959 như sau: "Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh... Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội". Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v… Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 23/3 hàng năm làm ngày nước thế giới. Nước là một loại tài nguyên được tái tạo theo quy luật thời gian và không gian. Nhưng ngoài quy luật tự nhiên, hoạt động của con người đã tác động không nhỏ đến vòng tuần hoàn của nước. Nước ta có nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2/3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia, mùa khô lại kéo dài 6-7 tháng làm cho nhiều vùng thiếu nước trầm trọng. Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên nước như tăng dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt nguồn nước mùa cạn, hạ thấp mực nước ngầm, suy thoái chất lượng nước… Do đó, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên nước, dùng đủ hôm nay, giữ gìn cho ngày mai, là trách nhiệm của toàn xã hội. Mỗi người dân cần được tuyên truyền sâu rộng về tài nguyên nước, từ đó thấy được nghĩa vụ của mình trong viêc giữ gìn bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này. Với lý do thực tế trên đây tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông” cho luận văn cao học ngành Quản lýcông. Luận văn được giới hạn bởi khía cạnh quản lý nhà nước thông qua việc khảo sát thực tế khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước ở tỉnh Đắk Nông. Thông qua sự tham khảo phân tích hệ thống văn bản pháp quy hiện hành về khai thác, sử dụng, bảo vệ và quản lý nước. 2. Tình hình nghiên cứu Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên lãnh thổ Việt Nam chung, trong đó trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp. Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát. Đến nay đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương, như: Báo cáo “Kết quả thực hiện đề án, điều tra đánh giá nước dưới đất 07 vùng trọng điểm tỉnh Đắk Nông” Dự án Điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 05 tỉnh Tây Nguyên (2006), Chủ biên Ông Ngọc Khoát. Thực hiện Liên đoàn địa chất Thủy văn-Địa chất công trình Miền Nam. 3 Đề tài “Quản lý tài nguyên và môi trường nước” (2014), do PGS-TS Trương Thanh Cảnh làm giáo viên hướng dẫn, nhóm học viên khoa Môi trường của Trường Đại học Khoa học tự nhiên thực hiện nghiên cứu. Đề tài đã làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về tổng quan về tài nguyên nước, hiện trạng sử dụng và giải pháp nâng cao công tác quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.(www.slideshare.net) Bài báo cáo “Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước” (2013). Giáo viên hướng dẫn Lê Quốc Tuấn, nhóm sinh viên Trường Đại học nông lâm TP. Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu. Các tác giả đã nêu vai trò của tài nguyên nước, tình hình sử dụng, sự tác động của biến đổi khí hậu, các vấn đề ô nhiễm tài nguyên nước, các biện pháp quản lý nhà nước để phát triển bền vững tài nguyên nước ở nước ta. Báo cáo “Quy hoạch thuỷ lợi với điều kiện thích ứng biến đổi khí hậu đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” (2015), Viện Quy hoạch Thủy lợi Hà Nội. Báo cáo “Tổng hợp nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước mặt, đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Đông bắc tỉnh Đắk Nông” (2016) Ths. Lê Viết Thuận Chi cục Thủy lợi Đắk Nông. Nhìn chung, các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống, khá toàn diện về Tài nguyên nước trên lãnh thổ Việt Nam và một số vùng của tỉnh Đắk Nông. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề cập đến những phương hướng, giải pháp quản lý tài nguyên nước trong tình hình mới, đó đều là những công trình, sản phẩm có giá trị, ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở để kế thừa cho việc nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề tài nguyên nước nói chung hoặc đặt nó nằm trong phạm vi nghiên cứu của các nguồn tài nguyên nước ngầm, nước mặt cụ thể một số vùng trên địa bàn tỉnh, mà chưa có đề tài, luận văn nghiên cứu sâu đến QLNN về tài nguyên nước như đề tài luận văn lựa chọn ở đây. Ngoài ra thực tế tôi đang công tác trong ngành cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh nên tôi mong muốn nghiên cứu đề tài này và có những đóng góp thiết thực liên quan đến ngành của mình. Do vậy đề tài nghiên cứu „Quản lý Nhà nƣớc về tài nguyên nƣớc tại tỉnh Đắk Nông‟ và hết sức cần thiết và khôngtrùng lập với các côngtrình nghiên cứu đã có. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa kiến thức, phân tích thực trạng tìm ra nguyên nhân những hạn chế trong hoạt động QLNN về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả Quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Đắk Nông góp phần hạn chế sử dụng lãng phí tài nguyên nước và gây ô nhiễm môi trườngsống. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn có nhiệm vụ: - Đánh giá tổngquan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; - Nghiên cứu lý thuyết về nội dung, hình thức, phương pháp QLNN về tài nguyên nước để xác lập cơ sở vấn đề nghiên cứu; - Nghiên cứu hoạt động QLNN về tài nguyên nước của các cơ quan chức năng làm cơ sở đánh thực trạng quản lýnhà nước về tài nghuên nước tại tỉnh Đắk Nông 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông, chủ yếu trong phạm vi chức năng của Sở Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị chức năng liên quan. 4 4.2. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi theo không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận văn tại các đơn vị quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong phạm vi nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Phạm vi theo thời gian: Các phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông và các chính sách, chủ trương... cũng như các giải pháp ở tầm vĩ mô cấp tỉnh, tình hình số liệu khảo sát trongthời gian từ năm2010-2015 đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn dựa trên trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm , chính sách của Đảng, Nhà nước trong hoạt động QLNN về Tài nguyên nước 5.2. Phương pháp nghiên cứu. 5.2.1.Phương pháp kế thừa Kế thừa có chọn lọc các tài liệu, tư liệu và các kết quả của của các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các nội dungnghiên cứu của luận văn. 5.2.2.Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thu thập các tài liệu đề án liên quan, các quy hoạch, định hướng và các chỉ tiêu phát triển của các ngành, các địa phương. Ngoài trong luận văn còn sử dụng nhiều kỹ thuật của phương pháp thống kê, so sánh và đối chiếu với thực tiễn để rút ra những kết luận cần thiết trong đánh giá thực trạng về tiếp nhận, sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước để từ đó tìm ra một số định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về tài nguyên nước.tại tỉnh Đăk Nông. 6. Những đóng góp của luận văn - Hệ thống hoá, bổ sung kiến thức để hình thành cơ sở khoa học của việc quản lýQuản lý Nhà nước về tài nguyên nước ở tỉnh Đắk Nông . - Đánh giá về thực trạnghoạt động và đề xuất những biện pháp nângcao hiệu quả thực hiện Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước ở tỉnh Đắk Nông. - Tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các cấp quản lý ở tỉnh Đắk Nông trong việc tổ chức, chỉ đạo về việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Đồng thời nó cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan đơn vị, cho sinh viên khoa môi trường. 7. Kết cấu nội dung của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luân, luận văn gồm các nội dung sau: - Chương1: Cơ sở lýluận và thực tiễn quản lý nhà nước về tài nguyên nước - Chương2. Thực trạngquản lý nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010 - 2015. - Chương3: Định hướng và Giải pháp quản lý Nhà nước về tài nguyên nước tại tỉnh Đắk Nông. 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƢỚC 1.1. Tài nguyên nƣớc 1.1.1. Khái niệm Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt. 1.1.2. Phân loại tài nguyên nước Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài nguyên nước sônglà thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụngrộngrãi trong đời sống và sản xuất. [47, tr. 01] Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùnglãnh thổ hay một quốc gia. - Nƣớc mặt: Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuốngđất. Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước. Cũngcó thể bổ cấp nhân tạo từ các nguồn khác, tuynhiên số lượng không đáng kể. Conngườicóthểlàmchonguồnnướccạn kiệt và ônhiễm.(khôngsửdụngđượctrongsinhhoạtănuống,tắmgiặt...) - Dòng chảy ngầm: Trên suốt dòng sông, lượng nước chảy về hạ nguồn thường bao gồm hai dạng là dòng chảy trên mặt và chảy thành dòng ngầm trong các đá bị nứt nẻ (không phải nước ngầm) dưới các con sông. Đối với một số thung lũng lớn, yếu tố không quan sát được này có thể có lưu lượng lớn hơn rất nhiều so với dòng chảy mặt. Dòng chảy ngầm thường hình thành một bề mặt động lực học giữa nước mặt và nước ngầm thật sự. Nó nhận nước từ nguồn nước ngầm khi tầng ngậm nước đã được bổ cấp đầy đủ và bổ sung nước vào tầng nước ngầm khi nước ngầm cạn kiệt. Dạng dòngchảynày phổ biến ở các khu vực karst do ở đâycó rất nhiều hố sụt và dòngsôngngầm. - Nƣớc ngầm: Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi. Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa. Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương. 1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên nước Tài nguyên nước là một dạng tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tài nguyên nước liên quan hàng ngày đến các hoạt động sống và hoạt động kinh tế của con người trong nhiều lĩnh vực, đáng kể nhất là nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và du lịch, công nghiệp và đô thị hoá. - Nƣớc dùng đời sống, sinh hoạt của nhân dân: Vai trò quan trọng của nước đối với đời sống và sinh hoạt của nhân dân được thể hiện trên một số mặt sau: + Nước là một yếu tố không thể thaythế trong ăn, uống, sinh hoạt của con người. Mặc dù mỗi người chỉ 6 cần vài lít nước mỗi ngày để duy trì sự sống, để có thể tránh khỏi các bệnh có liên quan đến nước, nhưng lượng nước cần thiết để bảo đảm vệ sinh cá nhân, nâng cao mức sống con người thì ngày càng tăng lên và là một chỉ tiêu của mức sống, biểu hiện mức độ văn minh của cuộc sống. Theo các nghiên cứu trong mười năm của Singapore thì mỗi người cần 90 lít nước trong mỗi ngày. Chính vì vậy trong công tác khai thác, sử dụng những mặt lợi của nước đồng thời phải phòng chống những tác hại do nước gây ra. Điều quan trọng là quản lý và điều hòa nguồn nước. Sử dụng nguồn nước sạch một cách hợp lý, như sử dụngnguồn nước ngầm, hoặc có thể kết hợp nguồn nước mặt. - Nƣớc đối với phát triển kinh tế: Nước ta là một nước nông nghiệp với nông dân chiếm khoảng 80% dân số. Nước đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với cây trồng. Ong cha ta đã đúc kết thành kinh nghiệm “ Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống” để nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nước đối với sản xuất nông nghiệp. Thủy lợi là bước đi đầu tiên trong nông nghiệp, luôn đóng vai trò quyết định đối với cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Để cây trồng sinh trưởng, nước là yếu tố đầu tiên, nhưng nhu cầu nước phải phù hợp với đặc điểm sinh lí của từng loại cây trồng và từng giai đoạn phát triển của nó. Nếu thừa nước ngập trong vòng từ 3-5 ngày đối với cây lúa sẽ giảm năng suất hoặc mất trắng. Vì vậy nước đối với cây trồng phải luôn phù hợp với yêu cầu phát triển của chúng mới đem lại hiệu quả cao. - Nƣớc đối với các hoạt động sản xuất công nghiệp: Việc sử dụng nước cho công nghiệp như một yếu tố cấu thành của sản xuất và công nghiệp là một ngành sử dụng nước với những yêu cầu về số lượng, đặc biệt là chất lượng. Đồng thời quá trình sử dụng nước cho công nghiệp còn thải ra nhiều chất độc hại làm xấu đi nguồn nước tự nhiên. Cấp nước cho công nghiệp ngày càng tăng, đi đôi với sự phát triển công nghiệp là quá trình phát triển đô thị hóa. Chất lượng nước dùng trong công nghiệp thực phẩm và công nghiệp dược phẩm là cao nhất, thấp nhất là trong vận tải thủy. Tỷ lệ phần trăm dùng nước trong công nghiệp so với tổng nhu cầu dùng nước càng ngày càng tăng khi công nghiệp càngphát triển (nhất là côngnghiệp hóa chất, giấy, nhiệt điện). - Nƣớc dùng để sản xuất điện: Điện là một nhu cầu rất quan trọng đối với kinh tế-xã hội. Chỉ khi cung cấp đủ điện năng mới thực hiện được mục tiêu “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Đảng ta đề ra. Điện có thể được sản xuất bằng nhiều nguồn khác nhau: Thủy điện, nhiệt điện, điện nguyên tử, điện sức gió, điện thủy triều, địa nhiệt, v.v... Ở Việt Nam hiện nay, điện có 2 nguồn chính là thủy điện và nhiệt điện (chạy bằng than đá, dầu, khí). Đối với những nước không có khả năng thủy điện thì việc đầu tư sản xuất ra điện rất lớn. Chúng ta đã sử dụng nguồn nước để tạo ra điện, giá thành sản xuất rẻ hơn nhiều so với các hình thức sản xuất hiện tại (nhiệt điện, điện nguyên tử,v.v...). Nếu chúngta sử dụng tổng hợp nguồn nước và sử dụngtốt nguồn lợi tổng hợp vừa có thể đạt được mục đích làm hồ để phát điện, tưới, nuôi cá, du lịch, vừa đưa lại nguồn lợi đa dạng mà giá thánh lại giảm. - Nƣớc dùng cho giao thông vận tải: Cùng với giao thông đường bộ, đường sắt... Giao thông đường thủy không những chỉ đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách mà trước hết là phải đảm nhận vai trò quan trọng, vai trò trung tâm hạ tầng cơ sở, phải thực hiện tốt giao lưu kinh tế-văn hóa-xã hội tạo điều kiện thực hiện phân bổ lại lực lượng sản xuất và nângcao dân trí. Nước có vai trò rất quan trọng trong giao thông vận tải thủy. Vận tải thủy thích hợp với loại hàng hóa nặng, cồng kềnh, không đòi hỏi phải vận chuyển nhanh, cước phí hạ góp phần bổ sung đáng kể vào vận tải đường sắt, đường bộ. Ở nhiều vùng nông thôn nước ta hiện nay cùng với việc đào kênh tưới tiêu nước cho đồng ruộng, vân tải bằng thuyền, ca nô đã góp phần đáng kể vào giải phóng đôi vai, sức lao động để vận chuyển phân bón, 7 hàng hóa, thóc lúa. Hệ thống sông, kênh ở miền Bắc, nhất là ở đồng bằng Nam bộ đã góp phần giao lưu giữa các miền đất nước. Vì vậy biết khai thác triệt để giao thông thủy sẽ đem lại lợi ích đáng kể góp phần thúc đẩy kinh tế -xã hội phát triển, làm tăng nhịp độ tăngtrưởng của thu nhập quốc dân lên khoảng 0.5%. - Nƣớc với sự phát triển của ngành thủy sản: Nước có vai trò quan trọng đối với ngành thủy sản. Nước là môi trường sống của động vật thủy sản. Không có nước ngành thủy sản không thể tồn tại. Tài nguyên nước ở nước ta đa dạng, có chất lượng phù hợp với nhiều loại tôm cá. Nguồn ngoại tệ do khai thác nuôi trồng thủy sản rất lớn. Vì vậy chúng ta phải có chính sách để khai thác, bảo vệ, quản lýnguồn nước - Môi trườngsốngcủa thủysản, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ kinh tế thủy sản. 1.2. Quản lý nhà nƣớc về tài nguyên nƣớc 1.2.1. Khái niệm Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhưng có thể khái niệm quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng nhằm chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quyluật khách quan. Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan (lập pháp, hành pháp, tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Quản lýtài nguyên nước là nhân tố khôngthể thiếu nhằm đạt được mục tiêu tăngtrưởng kinh tế bền vững trong nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ khác ở lưu vực Srêpôk. Sự gia tăng dân số, đo thị hóa và công nghiệp hóa đã tăng cường áp lực đối với tài nguyên nước, gây ra khan hiếm nước cạnh tranh giữa những người sử dụng, ô nhiễm nguồn nước, nhiễm mặn, suy thoái lưu vực cũng như gia tăng hạn hán và lũ lụt như những năm gần đây. Người nghèo thường là những người chịu thiệt hại nhất và môi trường cũng đang bị xuống casp nghiêm trọng. Để giải quyết những bất cập trong ngành nước. Chính phủ Viêt Nam đẫ thông qua luật Tài nguyên nước tháng 5/1998. Luật tài nguyên nước là cơ sở thành lập các tổ chức chuyên ngành và tạo lập các công cụ quản lýtổnghợp Tài nguyên nước [47, tr. 01]. 1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước QLNN là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với quá trình và hành vi xã hội, quản lý toàn bộ xã hội, trong đó có sự thực hiện QLNN đối với từng lĩnh vực, từng ngành cụ thể khác nhau. Nhà nước tổ chức xây dựng và quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Để việc QLNN về tài nguyên nước mang lại hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong tình hình kinh tế hội nhập toàn cầu, nhà nước cần phải quan tâm đến những vấn đề sau: - Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vận động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật. Điều 12, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 khẳng định : “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”. Có chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển mạng lưới giao nước sạch, hệ thống xử lý nước thải, xây dựng hệ thống xử lý nước dành riêng trong các khu công nghiệp, nhằm đảm bảo môi trường sống xanh, sạch, đẹp cho người dân. Có chính sách cho việc đào tạo cán bộ quản lý các loại hình doanh nghiệp có liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường, cụ thể hiện nay nên chú trọng đào tạo cán bộ cho các địa phương về quản lý tài nguyên nước và môi trường. 8 - Lập kế hoạch về tài nguyên nước Phải quy hoạch định hướng đúng, quản lý tài nguyên nước bền vững, quy hoạch phải hài hòa với quy hoạch tổng thể của cả nước cũng như của địa phương. Quy hoạch không trái với điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội, không để lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý tài nguyên nước phải đồng bộ với việc quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể nói là hai mảng này phải đồng hành cùng nhau trong việc phát triển kinh tế xã hội. - Tổ chức cơ cấu bộ máy thực hiện kế hoạch Việc tổ chức thực hiện và hoàn thiện cơ cấu bộ máy QLNN về Tài nguyên nước là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay – hội nhập toàn cầu, phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Với tư cách là đại diện cho toàn thể nhân dân quản lý lĩnh vực Tài nguyên nước, nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước và nhà nước quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước có liên quan trong lĩnh vực Tài nguyên nước và môi trường trong phạm vi cả nước cũng như tại các địa phương. Các cơ quan nhà nước trong hệ thống QLNN về Tài nguyên nước có nhiệm vụ trong từng lĩnh vực của cơ quan mình nhưng điều có sự phối hợp giữa các đơn vị với mục đích là quản lý thật tốt lĩnh vực, ngành nghề của mình, sao cho công việc được thực hiện đúng chính sách, kế hoạch đã đề ra từ Trung ương đến địa phương, không có trường hợp thực hiện sai chính sách của nhà nước, ngoài ra, bộ máy nhà nước góp phần vào việc hệ thống hóa công tác QLNN của các ngành các cấp. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về Tài nguyên nước phải là những người công dân tốt, là một cán bộ giỏi, đầy nhiệt huyết để có thể là người đại diện cho nhà nước làm công tác quản lý. - Kiểm tra, đánh giá công tác quản lý tài nguyên nước cũng là một trong các nội dung quan trọng trong Quản lý nhà nước về tài nguyên nước. 1.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Việt Nam Hiện nay, côngtác quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam được sơ bộ như sau: Việt Namcó 4 cấp quản lýnhà nước về tài nguyên nước: - Chính phủ: Đại diện là Hội đồngquốc gia về tài nguyên nước Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước do Chính phủ thành lập để tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. - Các Bộ ngành: + Bộ Tài nguyên và Môi trường: Đại diện là Cục Quản lýtài nguyên nước. Cục Quản lý tài nguyên nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởngthực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên nước, lưu vực sôngtrên phạm vi cả nước; + Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Đại diện là Tổngcục thủy lợi. + Bộ Công Thương: Đại diện là Tổng cục năng lượng. Tổng cục Năng lượng là cơ quan trực thuộc Bộ CôngThương, thực hiện chức năngtham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thươngquản lý nhà nước và thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về công nghiệp năng lượng (gồm điện, điện hạt nhân, dầu khí, than, năng lượng mới, nănglượngtái tạo, tiết kiệm nănglượng). + Bộ Xây dựng: Đại diện là Cục Hạ tầng kỹ thuật. Cục Hạ tầng kỹ thuật là cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, bao gồm: kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải. 9 + Bộ Giao thông và Vận tải: Đại diện là Cục Đường thuỷ nội địa Việt Nam. Cục Đường thuỷ nội địa Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải đường thủy nội địa trongphạm vi cả nước. - Tỉnh, thành phố: + Sở Tài nguyên và Môi trươngcác tỉnh: + Sở Nôngnghiệp và Phát triển nôngthôn: + Sở Xây dựng: + Sở Công thương: + Sở Giao thông và Vận tải: - Quận (thành thị), Huyện (nôngthôn): + Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện: là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước, môi trườngtrên địa bàn huyện. + Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện: là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; thuỷ lợi; thuỷ sản; phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ; kinh tế trangtrại nông thôn 1.3 Kinh nghiệm nƣớc ngoài 1.3.1. Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước tại Singapore Một là, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng tiết kiệm nguồn nước, xây dựng ý thức tự quản và thực hành tiết kiệmcho mỗi người dân. Hai là, phát triển mọi khả năng khai thác nước ngọt, đảm bảo phát triển bền vững. Tuy nhiên, thành công lớn nhất của quốc gia này trong việc giải quyết bài toán về nước ngọt là thực hiện dự án “nước mới”. Với sự thành công của dự án “nước mới”, người Singapore đã biến giấc mơ hơn 20 năm của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu thành hiện thực với kết quả lớn hơn mong đợi. Nguồn cung nước vượt xa cầu đảmbảo sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ba là, chính phủ có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc vào công cuộc bảo vệ, phát triển nguồn nước. 1.3.2. Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước tại Israel Israel là một quốc gia khan hiếm tài nguyên nước. Điều kiện tự nhiên của quốc gia này đặc biệt khô hạn. Lượng mưa rất thấp, thay đổi theo từng mùa. Trong quá trình phát triển, Israel đã thực hiện nhiều giải pháp sử dụngtiết kiệm và cải thiện nguồn cung cấp nước ngọt dựa vào sự phát triển khoa học kỹ thuật. Trước hết, Chính phủ hoàn thiện luật bảo vệ tài nguyên nước, kiểm soát khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước, đo lường, đánh thuế các mức tiêu thụ nước, quy định các mức xử phạt đối tượng có hành vi làm thất thoát nước. Tiếp theo, Israel lập kế hoạch xây dựng hệ thống dẫn và chứa nước trên toàn quốc. Để khắc phục sự suy giảm lượngnước từ các hồ chứa tự nhiên, quốc gia nàycho xâydựngnhiều bể chứa nước ngọt. Chính phủ cũng đầu tư phát triển các nhà máylọc nước thải. Ngoài ra, Israel cũng xây dựng các nhà máy chuyên sản xuất các thiết bị tiết kiệm nước có chất lượng cao. Cuối cùng, chính phủ còn áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước trong nông nghiệp. Quốc gia này áp dụngrất nhiều phươngpháp tưới: tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt… Phổ biến nhất là phương pháp tưới nhỏ giọt. 1.3.3. Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước tại Úc Nước Úc có gần 50% diện tích là sa mạc, tài nguyên nước chủ yếu tồn tại ở dạng sông băng và mũ băng 10 tại các cực. Là một trong những quốc gia chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu trên thế giới. Chính phủ đã thực hiện một số giải pháp cấp bách nhằm tiết kiệmnguồn nước ngọt. Một là, vận động, tuyên truyền nhân dân sử dụng nhiều biện pháp tiết kiệm nước gắn với sinh hoạt hàng ngày của mỗi cá nhân . Hai là, quản lýchặt nguồn cungcấp nước. Ba là, chính phủ khuyến khích tiết kiệm nước bằng cách bồi hoàn chi phí cho các gia đình lắp thiết bị tiết kiệm nước và hệ thống tái sinh nước tại nhà. Các cơ quan, chính quyền nhà nước cũngphải làm gươngtrong việc tiết kiệm nước. 1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về tài nguyên nƣớc 1.4.1. Thể chế, pháp luật chính sách của nhà nước Thể chế, pháp luật, chính sách của nhà nước là những công cụ mà nhà nước sử dụng trong việc thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chính trị của hệ thống chính trị của một giai cấp thống trị, thể hiện quyền lực của mình trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Để đạt được những mục tiêu đã đề ra nhà nước cần phải xây dựng và ban hành các văn bản luật, các văn bản quy phạm pháp luật một cách đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ, có tính khả thi cao. 1.4.2. Vai trò của tỉnh HĐND và UBND là cơ quan Trung ương tại địa phương quản lý trên mọi lĩnh vực trên địa bàn tỉnh, thực hiện theo Nghị quyết, theo kế hoạch 5 năm, hàng năm. Các ngành các cấp có nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh theo từng lĩnh vực của ngành phụ trách để UBND ra các văn bản quy phạm, các quyết định để có cơ sở pháp lý để các ngành các cấp thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Vì vậy, vai trò của tỉnh rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cũng như quản lý tài nguyên nước và môi trường. 1.4.3. Môi trường kinh doanh – Hội nhập toàn cầu + Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô: + Giữ vững ổn định chính trị: + Bảo đảm ổn định xã hội: 1.4.4. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước và môi trường Tổ chức bộ máy QLNN về tài nguyên nước và môi trường phải được thành lập và hoạt động thông suốt, ổn định theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tổ chức bộ máy phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong mọi thời kỳ. Trình độ, năng lực các cán bộ trong ngành, nhất là các cán bộ công chức trực tiếp làm công tác quản lý phải không ngừng học hỏi nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để có thể quản lý, điều hành công việc được thông suốt, theo kịp sự phát triển của thời đại. Không quan liêu, hách dịch, cửa quyền, để các doanh nghiệp kinh doanh vận tải có thể tin cậy vào bộ máy tổ chức điều hành của nhà nước. Con người là yếu tố quan trọng nhất và không có gì thay thế được, do vậy việc hình thành tổ chức bộ máy điều hành thông suốt cũng như trình độ năng lực của cán bộ góp phần vào sự thành công của nhà nước. Vì vậy, cần phải đầu tư cho đào tạo đối với các cán bộ làm công tác này. 1.4.5. Ý thức của người dân 11 Nhận thức là một quá trình. Đặc biệt là nhận thức về pháp luật – yếu tố nhận thức bắt buộc, đó lại càng là một quá trình phức tạp, khó khăn, kéo dài. Không chỉ thế, từ nhận thức đến hành động đúng lại còn là một khoảng cách rất lớn. Ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường nói chung và nguồn nước nói riêng cũng là điều cần phải quan tâm. Phải giáo dục tuyên truyền ý thức chấp hành nghiêm chỉnh Luật tài nguyên nước và môi trường, điều này cũng thể hiện được sự văn minh văn hóa của đất nước. Vì vậy mà không thể lơ là trong việc giáo dục tuyên truyền cho nhân dân về Luật tài nguyên nước và môi trường. TIỂU KẾT CHƢƠNG I Tài nguyên nước là một dạng tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tài nguyên nước liên quan hàng ngày đến các hoạt động sống và hoạt động kinh tế của con người trong nhiều lĩnh vực, đáng kể nhất là nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và du lịch, công nghiệp và đô thị hoá. Trong chương 1, tác giả đã đề cập đến những nội dung cơ bản về Quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại Việt Nam; những vấn đề về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên nước và vai trò , ý nghĩa của tài nguyên nước. Đồng thời qua công tác khảo cứu, tác giả cũng đã chỉ ra khái niệm về tài nguyên nước. Đặc biệt tác giả dẫn chứng một số kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về kinh nghiệm quản lý, sử dụng tài nguyên nước và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên nước. Những nội dung về lý luận và pháp lý liên quan đến tài nguyên nước được đề cập trong Chương 1 là luận cứ khoa học để phân tích, đánh giá thực trạng Thực trạng quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010 – 2015 Chương 2 cũng như định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Đắk Nông sẽ được đề cập đến trong Chương 3 của Luận văn. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƢỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 2.1. Tổng quan về tỉnh Đắk Nông 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên Tỉnh Đăk Nông nằm ở phía Tây Nam vùng Tây Nguyên Việt Nam. Toàn tỉnh có 7 huyện và 1 thị xã trong đó 4 huyện có chung đường biên giới với Cam Pu Chia là Cư Jút, Đăk Mil, Đắk Song và Tuy Đức với chiều dài đườngbiên giới 130 km. Tỉnh lỵcủa Đăk Nông là thị xã Gia Nghĩa. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đăk Lăk. Phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước. Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng. Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Cam Pu Chia. Thị xã Gia Nghĩa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh. Trung tâm thị xã là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 với quốc lộ 28 nối Gia Nghĩa với các thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk); Đà Lạt (Lâm Đồng) và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong tương lai những tuyến đường này cùng với đường hàng không (sân bay Nhân Cơ) hoạt động thì Đăk Nông là đầu mối giao lưu rất quan trọng, đây là động lực lớn, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng như vùngTây Nguyên phát triển. [46, tr.05]. 12 Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.515,62 km2, với diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện nay là 296.861 ha, trong đó trồng cây hàng năm là 96.863 ha và cây lâu năm là 199.997 ha. Dân số toàn tỉnh năm 2014 là 565.529 người, mật độ dân số 86,83 người/km2.

Tài liệu liên quan