Luan an Tien si: Nhung van de kinh te xa hoi nay sinh trong dau tu truc tiep nuoc ngoai cua mot so nuoc chau A va giai phap cho Viet Nam-Thac si - Tien si - Cao hoc - 1243687 pdf

  • 3 months ago
  • 1 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề kinh tế xã hội chủ yếu thường nảy sinh trong FDI. Nghiên cứu hiện trạng các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI ở một số nước châu Á; chỉ ra các chính sách, biện pháp các nước này đã áp dụng để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Đề xuất một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của một số nước châu Á nhằm xử lý và phòng ngừa có hiệu quả các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI tại Việt Nam đến năm 2020.

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : 0.37 M, số trang : 24 ,tên 1243687 pdf

Chi tiết

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Sau 25 năm đẩy mạnh thu hút FDI, Việt Nam đạt được những thành tựu nhất
định về vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và việc làm… Qua đó,
FDI khẳng định vai trò không thể thiếu đối với nền kinh tế Việt Nam. Trước hết, đây là
nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, làm tăng khả năng
sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động…
n cạnh những kết quả đạt được, FDI đã và đang làm nảy sinh những vấn đề
có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cụ thể như: Tạo
sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước; gây ra tình trạng mất cân đối
về cơ cấu ngành, vùng kinh tế; công nghệ chuyển giao lạc hậu; gây ô nhiễm môi
trường sinh thái; xuất hiện hiện tượng chuyển giá; phát sinh xung đột trong quan hệ
chủ - thợ; và những bất cập về điều kiện sinh hoạt, làm việc của người lao động…
Đây là những vấn đề mà không ít nước gặp phải trong quá trình thu hút FDI.
Do vậy, nghiên cứu một cách toàn diện quá trình thu hút và sử dụng vốn FDI
tại Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm một số nước châu Á, để
chỉ ra, phân tích và đánh giá một cách khách quan, có hệ thống những vấn đề kinh tế
xã hội nảy sinh có ý nghĩa rất lớn, nhằm khai thác có hiệu quả nguồn vốn này và hạn
chế những chi phí xử lý chúng trong tương lai. Điều đó, đòi hỏi phải có những công
trình nghiên cứu có hệ thống về FDI và đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm xử lý, phòng
ngừa những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh. Vì vậy, đề tài Những vấn đề kinh tế
hội nảy sinh trong đầu trực tiếp nước ngoài của một số nước châu Á giải
pháp cho Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.
2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện đánh giá
tác động của FDI tới kinh tế - xã hội nước tiếp nhận đầu tư. Một số nghiên cứu trong
đó đã ít nhiều đề cập tới tác động hai mặt của hoạt động này.
Imad A. Moosa (2002) cho rằng, bên cạnh việc FDI đem lại những lợi ích, thì
nó cũng có những mất mát, thiệt hại nhất định đối với nước tiếp nhận đầu tư. Vì vậy,
2
tác động của FDI đến các nước đang phát triển có thể là không có lợi trong mọi
trường hợp và trong mọi thời điểm.
2.1. Tác động của FDI về mặt kinh tế
(i) Cung cấp nguồn vốn đầu phát triển
Mô hình hai khoảng cách (The two-gap) trong kinh tế học phát triển cho thấy
các nước đang phát triển thường gặp phải vấn đề (i) chênh lệc giữa tiết kiệm và đầu
tư (tăng tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu đầu tư) và (ii) chênh lệch giữa xuất khẩu và
nhập khẩu (tăng xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu). FDI được cho là có vai trò thu
hẹp 2 khoảng cách này.
Song, trong nghiên cứu của mình, Lall và Streenten (1977) lại đặt nghi vấn
về khả năng của FDI thực hiện chức năng cung cấp vốn ít nhất là bởi 3 lý do sau:
Một là, FDI là nguồn vốn nước ngoài khá đắt đỏ. Thứ hai, dòng vốn FDI thực tế
được cung cấp bởi các công ty đa quốc gia có thể là không lớn (do vốn FDI có thể
được vay mượn từ nước tiếp nhận). Thứ ba, vốn góp của các công ty đa quốc gia
có thể hình thành nên máy móc hoặc tài sản vô hình. Với lý do này, FDI cung cấp
vốn ít và khá đắt đỏ.
(ii) FDI với sản lượng tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu của Grossman và Helpman (1991), Borensztein và các cộng sự
(1995),
Barro
Sala-i-Martin
(1995),
Imad
A.
Moosa
(2002),
Freeman
(2002),
Hermes
Lensink
(2003),
Nguyễn
Mại
(2003),
Andreas
Johnson
(2005),
Girma
(2005), Li và Liu (2005), Lê Xuân Bá (2006) đều cho thấy, FDI đóng vai trò quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư.
Tuy nhiên, Lall và Streeten (1977) lập luận rằng sự thống trị của MNC trong
một nền kinh tế đang phát triển có thể gây bất lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Thêm vào đó, nghiên cứu của Aiken và Harrison’s (1999), Haddad và Harrison’s
(1993) cho rằng, tác động tràn của FDI tới sản lượng là rất nhỏ.
(iii) FDI với tiền lương việc làm
Nghiên cứu của Pugel (1985), Baldwin (1995) khẳng định rằng FDI có khả
năng tăng việc làm một cách trực tiếp.
3
Song, nghiên cứu của Vaitsos (1976) lại kết luận rằng, tác động của FDI đến
việc làm là thấp. Thêm vào đó, Tambunlertchai (1976) đánh giá sự đóng góp của các
công ty nước ngoài đối với tạo việc làm ở nước sở tại là không đáng kể.
(iv) FDI với cán cân thanh toán
Theo Vaitsos (1976) thì cán cân thanh toán của các nước đang phát triển đạt được
lợi ích từ FDI, nhưng không phải là trong sản xuất. Đầu tư sản xuất dường như đã có tác
động bất lợi lên cán cân thanh toán của các nước đang phát triển vì có sự tăng nhập khẩu
trong đầu tư, cũng như cơ chế định giá chuyển nhượng trong các ty đa quốc gia.
(v) FDI với công nghệ
Các
nghiên
cứu
của
Nelson
Phelps
(1966);
Jovanovic
Rob
(1989);
Segerstrom (1991) đều chỉ ra rằng chuyển giao Công nghệ đóng vai trò chính trong
tiến trình phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Imad A. Moosa (2002) cho rằng,
những lợi ích
tương ứng của công nghệ nước ngoài đưa vào nước sở tại có thể không đáng kể hoặc
thậm chí là không có. Điều này một phần là do nước sở tại không có khả năng tiếp
nhận được công nghệ nước ngoài một cách chính xác.
(vi) FDI với chuyển dịch cấu kinh tế
Nghiên cứu của Imad A. Moosa (2002) cho thấy, Vốn FDI di chuyển vào các
ngành góp phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận cao
và các ngành có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên, nếu chính phủ các nước không
có định hướng tốt dễ gây mất cân đối về ngành kinh tế.
2.2. Tác động của FDI về mặt xã hội
Nghiên cứu của Donaldson (1989) cho thấy, FDI ảnh hưởng đến sự phát triển
của nước tiếp nhận ở một số vấn đề như, đạo đức, tham nhũng. Các MNC bị coi là
đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môi trường của nước tiếp nhận (Longworth, 1998).
Nghiên cứu của Katherina Glac (2006) kết luận rằng, FDI có ảnh hưởng tới các
chuẩn mực đạo đức của nước tiếp nhận đầu tư, khi có sự giao thoa của các nền văn
hoá khác nhau.
Ngoài các nghiên cứu trên đây, nghiên cứu của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường
Lạng (2006) là một trong số ít và có thể là duy nhất cho tới hiện nay đặt vấn đề phân

Download

Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ