Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men Escherichia coli theo mẻ

Đăng ngày 9/16/2019 2:56:59 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 6 | Page: 10 | FileSize: 0.99 M | File type: PDF
Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men Escherichia coli theo mẻ. Phytase là enzyme có ứng dụng quan trong trong công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã cải tiến môi trường lên men LB và thu hồi được enzyme phytase BacP tái tổ hợp bằng phương pháp lên men theo mẻ chủng E. coli BL21(DE3) mang gen phyC tái tổ hợp.
HNUE JOURNAL OF SCIENCE
DOI: 10.18173/2354-1059.2019-0015
Natural Sciences 2019, Volume 64, Issue 3, pp. 123-132
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
THU HỒI TINH SẠCH PHYTASE TÁI TỔ HỢP NGUỒN GỐC
TỪ Bacillus subtilis TRONG DỊCH LÊN MEN Escherichia coli THEO MẺ
Trn ThThúyvà Mai ThNgc
Khoa Sinh học, Trường Đại học phạm Ni
Tóm tắt. Phytase là enzyme có ứng dụng quan trong trong công nghiệp chế biến thức ăn chăn
nuôi và chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã cải tiến môi trường lên men
LB và thu hồi được enzyme phytase BacP tái tổ hợp bằng phương pháp lên men theo mẻ
chủng E. coli BL21(DE3) mang gen phyC tái tổ hợp. Enzyme BacP tái tổ hợp với hoạt độ
18,49 IU/mL thu được sau 18 gikích hot bng lactose, cao hơn so với vic sdng cht kích
hot biu hin isopropyl β-D-1-thio-galactopyranoside (IPTG). Bằng phương pháp sắc kí ái
lực kết hợp với cô đặc dịch lên men qua màng có kích thước lỗ 5 KDa, enzyme BacP đã được
tinh sạch 4,5 lần, đạt hoạt độ riêng 24,48 IU/mg protein. Nghiên cứu này là tiền đề cho việc
đánh giá khả năng sử dụng BacP, loại phytase kiềm có khả năng thủy phân phytate thành các
dẫn xuất inositol phosphate bậc thấp (IP2, IP3) có giá trị dược học, trong chế biến thực phẩm.
Từ khóa: Phytase, enzyme tái tổ hợp, lên men mẻ, Bacillus subtilis, Escherichia coli.
1.
Mở đầu
Phytase là enzyme xúc tác cho phn ng thy phân axit phytic thành myo-inositol phosphate
và các gốc phosphate vô cơ tự do. Dng mui ca axit phytic (các phytate) là dng dtr
phosphate chính yếu trong các hạt ngũ cốc (chiếm 1-3% hàm lượng cht khô ca ht) [1]. Đây
chính là nguyên nhân gây c chế quá trình tiêu hóa, làm gim khả năng hấp thcác chất khoáng
và protein ở cơ thể người và động vt [2, 3]. Chính vì vy, enzyme phytase đã được nghiên cu và
ng dng rộng rãi như một enzyme bsung vào thức ăn chăn nuôi nhằm tăng hiệu qukinh tế,
gim ô nhiễm phosphate trong môi trường đất và nước cho các trang trại chăn nuôi quy mô công
nghip, bán công nghip [4].
Căn cứ vào vị trí nhóm phosphate đầu tiên bị phytase tác động, Ủy ban danh pháp enzyme thuộc
Hiệp hội Hóa sinh Quốc tế đã chia phytase thành hai nhóm: 3-phytase và 6-phytase [5]. Tuy nhiên,
trong thực tế ứng dụng, các đặc tính hóa , hóa sinh của enzyme lại được quan tâm nhiều hơn; do
vậy, người ta thường phân chia phytase thành phytase axit (Histidine Acid Phosphatase, HAP
phytase) và phytase kiềm (Beta Propeller Phytase, BPP phytase) [6]. Các HAP phytase (phytase từ
E. coli và nấm mốc Aspergillus sp.) được nghiên cứu khá nhiều
và được ứng dụng rộng rãi trong
chăn nuôi; tuy nhiên, các nghiên cứu về BPP phytase (phytase kiềm từ Bacillus sp. và từ phấn một
số loài hoa huệ tây) còn khá hạn chế [7, 8, 9], mc dù loại phytase này được cho là thy phân
phytate không hoàn toàn, to ra nhiu inositol phosphate bc thp (IP2, IP3) có li cho sc khe [10].
Ngày nhn bài: 12/3/2019. Ngày sa bài: 20/3/2019. Ngày nhận đăng: 27/3/2019.
Tác giliên h: Trn ThThúy. Địa che-mail: thuy_tt@hnue.edu.vn
123
Trn ThThúyvà Mai ThNgc
Phytase kiềm của cây hoa huệ tây (Lilium longixorum) đã được tinh sạch bởi Garchow và cs,
2006 [11]. Đầu tiên, dịch enzyme này được kết tủa bằng dung dịch (NH4)2SO4 với nồng độ bão
hòa 25 - 60% thu được enzyme với hoạt tính còn lại là 41,1 - 56,5%. Dịch thu được tiếp tục được
tinh sạch theo phương pháp sắc kí trao đổi ion bằng cột HiTrap Q-FF hoặc HiPrep (Amersham
Biosciences)
cuối
cùng
được
tinh
sạch
đến
đồng
nhất
bằng
sắc
lọc
gel.
Powar
Jagannathan, năm 1982, đã tinh sạch phytase từ dịch nuôi cấy Bacillus subtilis [12]. Dịch lọc lần
lượt được kết tủa bằng cồn ethanol và acetone, sau đó tiến hành sắc kí lọc gel bằng cột lọc
Amberlite IRP-64 và tinh sạch bằng sắc kí trao đổi ion DEAE-cellulose. Năm 1998, hai nhóm
nghiên cứu độc lập của Kerovuo J và Kim YO đã chuyển và biểu hiện thành công gen mã hóa
phytase kiềm trong Bacillus subtilis và tinh sạch được phytase kiềm tái tổ hợp (PhyC và TS-phy)
từ dịch lên men bằng sắc kí ái lực [7, 8].
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên phytase kiềm có nguồn gốc từ Bacillus subtilis
được biểu hiện trong E. coli BL21 (DE3), vật chủ được dùng phổ biến và có hiệu suất sinh tổng
hợp protein tái tổ hợp cao [13]. Phytase này mặc dù đã được Đỗ Thị Ngọc Huyền và cs (2007)
nghiên cứu tinh sạch một phần và xác định đặc tính nhưng chưa đánh giá được vai trò của các chất
kích hoạt trong toàn bộ quá trình lên men và thu hồi enzyme tái tổ hợp [14].
2.
Nội dung nghiên cứu
2.1.
Vật liệu phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Nguyên vật liệu
Chủng E. coli NB tái tổ hợp mang plasmid tái tổ hợp pE10C2 chứa gen phyC mã hóa phytase
từ Bacillus subtilis được tạo và lưu giữ tại bộ môn Công nghệ Sinh học - Vi sinh, Khoa Sinh học,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Tran, 2010). Chủng E. coli BL21(DE3), dòng thường kí hiệu là
BL (Novagen, Mỹ) và dòng biến nạp nhanh (One-shot) kí hiệu là OS (Invitrogen, Mỹ) được dùng
để biểu hiện nguồn gen mã hóa phytase từ Bacillus subtilis; các dòng này được dùng để lên men,
sinh tổng hợp phytase tái tổ hợp (BacP).
Môi trường Luria Betani - LB (Difco), môi trường LBA (môi trường LB có bổ sung
ampicillin 100 mg/l). Các hóa chất: Tris-base (Sigma); axit axêtic, axit clohidric, natri hidroxit,
ethanol,
iso-propanol,
glyxerol,
canxi
clorua,
natri
clorua,
EDTA,
IPTG,
lactose,
glucose,
ammonium molypdate tricloroaxetic axit (Merck); natri-phytate (Sigma, P3168) đều tinh sạch ở
mức phân tích.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
* Xác định hoạt tính enzyme phytase BacP
Hoạt tính enzyme phytase được xác định theo phương pháp của Shimizu, năm 1992 [15].
Lượng phosphate vô cơ (Pvc) giải phóng dưới tác dụng của phytase được xác định bằng dung dịch thử
màu, dung dịch có chứa 4 lần thể tích dung dịch A (1,5% amoniummolypdate (NH4)6Mo7O24 pha
trong dung dịch 5,5% H2SO4 ) và 1 lần thể tích dung dịch B (2,7% FeSO4.7H2O). So mầu trên
máy quang phổ tử ngoại khả kiến ở bước sóng 700 nm và định lượng Pvc trong dịch enzyme dựa
vào đồ thị chuẩn Pvc với hàm lượng NaH2PO4 từ 0,05 đến 1 mM. Một đơn vị hoạt tính phytase
(IU) được quy định là lượng enzyme để giải phóng 1 µmol Pvc trong 1 phút ở điều kiện thí
nghiệm.
* Biểu hiện enzyme BacP trong dịch nuôi cấy chng E. coli BL21(DE3) tái t hp
Chng E. coli BL21(DE3) tái thp mang gen phyC được hot hóa bng cách cy 1 khun
lc từ đĩa thạch giging 4-10vào đĩa thạch chứa môi trường LBA và nuôi trong t37ºC. T
mt khun lạc trên đĩa môi trường thch hot hóa cy vào 25ml LBA trong bình nón, thtích
100ml, nuôi lc 37ºC và 200 vòng/phút. Ging vi khuẩn đã hoạt hóa được bsung vào 200ml
124
Thu hồi tinh sạch phytase tái tổ hợp nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men…
môi trường LBA lng trong bình tam giác 1000 ml sao cho OD620 ban đầu đạt 0,1; nuôi lc 37ºC
và 200 vòng/phút cho đến khi OD620 đạt giá tr1,0 -100 (Giai đoạn tăng sinh khối). Gen mã hóa
phytase được kích hot biu hin bng cách bsung cht cm ng - IPTG 1mM hoc lactose (1-
12,5 mM) và CaCl 10mM khi OD620 đạt giá tr1,0 100 (tùy thuc vào chiến lược lên men) và
nồng độ Pvc < 1mM. Ly mẫu (3 mL) định k1 gi/lần để kim tra khả năng sinh trưởng và sinh
tng hp phytase.
* Thu hi enzyme BacP t dch nuôi cy tế bào
Dch nuôi cy E. coli BL21(DE3) tái thp mang gen phyC được li tâm 8000 vòng/phút
trong 10 phút để thu dch ni (dch enzyme trong dch nuôi) và cn tế bào. Cn tế bào được hòa
trong dung dịch đệm 100mM Tris HCl pH = 7, 5mM CaCl2 vi thtích bng 1/10 thtích ban
đầu, đặt trong nước đá (0ºC) và đem phá tế bào bng sóng siêu âm vi âm tn 20kHz, lp li 4
vòng (mi vòng gm 1 phút siêu âm tmức 10 đến 50% công sut và 1 phút ngh). Dch phá tế
bào được li tâm thu dch ni (dch enzyme trong tế bào) và loi bcn là các mnh vtế bào.
* Tinh sch enzyme BacP
Enzyme
BacP được tinh sạch
bằng sắc ái lực IMAC (Immobilized metal affinity
chromatography). Cột sắc ái lực chứa hạt gel mang nhóm chức NTA (nitrilotriacetic acid) gắn
với Ni2+, protein tái tổ hợp chứa đuôi 6-His tag (đuôi 6 histidine) có khả năng tạo liên kết tĩnh điện
với ion kim loại Ni2+, giúp protein này được giữ lại trên hạt gel được chiết rút bằng lực ion khi
môi trường có chất cạnh tranh (imidazole) với đuôi 6-His tag ở nồng độ cao.
Quy trình tinh sạch gồm 05 bước: (1) Cân bằng cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột
(100mM Tris HCl pH = 7, 300 mM NaCl, 5mM CaCl2, 1% Glycerol); (2) Gắn protein đích:
Mẫu protein enzyme (trong dung dịch 100mM Tris – HCl pH = 7, 5 mM CaCl2 và dung dịch đệm
cân bằng cột được trộn theo tỉ lệ thể tích 1 mẫu protein: 1 dung dịch đệm) được bổ sung vào cột;
(3) Rửa cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột; (4) Chiết enzyme khỏi cột bằng dung dịch đệm
chiết enzyme (100mM Tris – HCl pH = 7, 300 mM NaCl, 5mM CaCl2, 1% Glycerol, 250mM
imidazol); (5) Cân bằng lại cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột. Vận tốc dòng chảy trong suốt
quá trình tinh sạch là 1 mL/phút.
Protein tổng số trong dung dịch được xác định bằng phản ứng màu với coomasie brilliant
blue
[16].
Kích
thước
phytase
BacP
được
xác
định
bằng
điện
di
SDS-PAGE
trên
gel
polyacrylamide 12,5% (w/v) và vị trí của các băng vạch protein sẽ được hiển thị bằng cách nhuộm
bản gel trong dung dịch coomassie brillant blue [17]. Trọng lượng phân tử protein được xác định
bằng protein chuẩn của hãng Lonza.
2.2.
Kết quả thảo luận
2.2.1. Hoạt hóa, đánh giá lựa chn chng E. coli BL21(DE3) tái t hp mang gen
hóa phytase t Bacillus subtilis
Plasmid tái thp pE10C2 mang đoạn ADN ngoi lai (phyC) mã hóa phytase kim (BacP)
ca Bacillus subtilis được bo qun trong tế bào chtách dòng E. coli NB ca hãng Novagen.
Để phc vmục đích lên men, biểu hin gen trong E. coli, chúng tôi đã tách chiết, tinh sch
plasmid này tdch nuôi cy E. coli NB tái thp và biến np vào tế bào khbiến E. coli
BL21(DE3). Kết qubiến np vào hai dòng tế bào chE. coli BL21(DE3) khbiến BL và OS thu
được mt skhun lc to và tách biệt trên môi trường thch LB có cha kháng sinh ampicilin 100
µg/mL như một yếu tchn lc. Các khun lc mọc trên môi trường này đều là các khun lc
mang plasmid tái thp pE10C2, tuy nhiên, chúng tôi vn thc hin vic kim tra li scó mt
ca gen phyC trong mt sdòng tế bào được la chn ngu nhiên tcác khun lc mc tách bit
trên đĩa thạch môi trường LB có cha kháng sinh ampicilin 100 µg/mL bng phn ng PCR vi
cp mồi đặc hiu cho gen phyC. Kết quả điện di để kim tra snhân lên ca gen phyC trong phn
125
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
6 lần xem

Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men Escherichia coli theo mẻ. Phytase là enzyme có ứng dụng quan trong trong công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã cải tiến môi trường lên men LB và thu hồi được enzyme phytase BacP tái tổ hợp bằng phương pháp lên men theo mẻ chủng E. coli BL21(DE3) mang gen phyC tái tổ hợp..

Nội dung

HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1059.2019-0015 Natural Sciences 2019, Volume 64, Issue 3, pp. 123-132 This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn THU HỒI VÀ TINH SẠCH PHYTASE TÁI TỔ HỢP CÓ NGUỒN GỐC TỪ Bacillus subtilis TRONG DỊCH LÊN MEN Escherichia coli THEO MẺ Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt. Phytase là enzyme có ứng dụng quan trong trong công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã cải tiến môi trường lên men LB và thu hồi được enzyme phytase BacP tái tổ hợp bằng phương pháp lên men theo mẻ chủng E. coli BL21(DE3) mang gen phyC tái tổ hợp. Enzyme BacP tái tổ hợp với hoạt độ 18,49 IU/mL thu được sau 18 giờ kích hoạt bằng lactose, cao hơn so với việc sử dụng chất kích hoạt biểu hiện isopropyl β-D-1-thio-galactopyranoside (IPTG). Bằng phương pháp sắc kí ái lực kết hợp với cô đặc dịch lên men qua màng có kích thước lỗ 5 KDa, enzyme BacP đã được tinh sạch 4,5 lần, đạt hoạt độ riêng 24,48 IU/mg protein. Nghiên cứu này là tiền đề cho việc đánh giá khả năng sử dụng BacP, loại phytase kiềm có khả năng thủy phân phytate thành các dẫn xuất inositol phosphate bậc thấp (IP2, IP3) có giá trị dược học, trong chế biến thực phẩm. Từ khóa: Phytase, enzyme tái tổ hợp, lên men mẻ, Bacillus subtilis, Escherichia coli. 1. Mở đầu Phytase là enzyme xúc tác cho phản ứng thủy phân axit phytic thành myo-inositol phosphate và các gốc phosphate vô cơ tự do. Dạng muối của axit phytic (các phytate) là dạng dự trữ phosphate chính yếu trong các hạt ngũ cốc (chiếm 1-3% hàm lượng chất khô của hạt) [1]. Đây chính là nguyên nhân gây ức chế quá trình tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thụ các chất khoáng và protein ở cơ thể người và động vật [2, 3]. Chính vì vậy, enzyme phytase đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi như một enzyme bổ sung vào thức ăn chăn nuôi nhằm tăng hiệu quả kinh tế, giảm ô nhiễm phosphate trong môi trường đất và nước cho các trang trại chăn nuôi quy mô công nghiệp, bán công nghiệp [4]. Căn cứ vào vị trí nhóm phosphate đầu tiên bị phytase tác động, Ủy ban danh pháp enzyme thuộc Hiệp hội Hóa sinh Quốc tế đã chia phytase thành hai nhóm: 3-phytase và 6-phytase [5]. Tuy nhiên, trong thực tế ứng dụng, các đặc tính hóa lí, hóa sinh của enzyme lại được quan tâm nhiều hơn; do vậy, người ta thường phân chia phytase thành phytase axit (Histidine Acid Phosphatase, HAP phytase) và phytase kiềm (Beta Propeller Phytase, BPP phytase) [6]. Các HAP phytase (phytase từ E. coli và nấm mốc Aspergillus sp.) được nghiên cứu khá nhiều và được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi; tuy nhiên, các nghiên cứu về BPP phytase (phytase kiềm từ Bacillus sp. và từ phấn một số loài hoa huệ tây) còn khá hạn chế [7, 8, 9], mặc dù loại phytase này được cho là thủy phân phytate không hoàn toàn, tạo ra nhiều inositol phosphate bậc thấp (IP2, IP3) có lợi cho sức khỏe [10]. Ngày nhận bài: 12/3/2019. Ngày sửa bài: 20/3/2019. Ngày nhận đăng: 27/3/2019. Tác giả liên hệ: Trần Thị Thúy. Địa chỉ e-mail: thuy_tt@hnue.edu.vn 123 Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc Phytase kiềm của cây hoa huệ tây (Lilium longixorum) đã được tinh sạch bởi Garchow và cs, 2006 [11]. Đầu tiên, dịch enzyme này được kết tủa bằng dung dịch (NH4)2SO4 với nồng độ bão hòa 25 - 60% thu được enzyme với hoạt tính còn lại là 41,1 - 56,5%. Dịch thu được tiếp tục được tinh sạch theo phương pháp sắc kí trao đổi ion bằng cột HiTrap Q-FF hoặc HiPrep (Amersham Biosciences) và cuối cùng được tinh sạch đến đồng nhất bằng sắc kí lọc gel. Powar và Jagannathan, năm 1982, đã tinh sạch phytase từ dịch nuôi cấy Bacillus subtilis [12]. Dịch lọc lần lượt được kết tủa bằng cồn ethanol và acetone, sau đó tiến hành sắc kí lọc gel bằng cột lọc Amberlite IRP-64 và tinh sạch bằng sắc kí trao đổi ion DEAE-cellulose. Năm 1998, hai nhóm nghiên cứu độc lập của Kerovuo J và Kim YO đã chuyển và biểu hiện thành công gen mã hóa phytase kiềm trong Bacillus subtilis và tinh sạch được phytase kiềm tái tổ hợp (PhyC và TS-phy) từ dịch lên men bằng sắc kí ái lực [7, 8]. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên phytase kiềm có nguồn gốc từ Bacillus subtilis được biểu hiện trong E. coli BL21 (DE3), vật chủ được dùng phổ biến và có hiệu suất sinh tổng hợp protein tái tổ hợp cao [13]. Phytase này mặc dù đã được Đỗ Thị Ngọc Huyền và cs (2007) nghiên cứu tinh sạch một phần và xác định đặc tính nhưng chưa đánh giá được vai trò của các chất kích hoạt trong toàn bộ quá trình lên men và thu hồi enzyme tái tổ hợp [14]. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 2.1.1. Nguyên vật liệu Chủng E. coli NB tái tổ hợp mang plasmid tái tổ hợp pE10C2 chứa gen phyC mã hóa phytase từ Bacillus subtilis được tạo và lưu giữ tại bộ môn Công nghệ Sinh học - Vi sinh, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Tran, 2010). Chủng E. coli BL21(DE3), dòng thường kí hiệu là BL (Novagen, Mỹ) và dòng biến nạp nhanh (One-shot) kí hiệu là OS (Invitrogen, Mỹ) được dùng để biểu hiện nguồn gen mã hóa phytase từ Bacillus subtilis; các dòng này được dùng để lên men, sinh tổng hợp phytase tái tổ hợp (BacP). Môi trường Luria Betani - LB (Difco), môi trường LBA (môi trường LB có bổ sung ampicillin 100 mg/l). Các hóa chất: Tris-base (Sigma); axit axêtic, axit clohidric, natri hidroxit, ethanol, iso-propanol, glyxerol, canxi clorua, natri clorua, EDTA, IPTG, lactose, glucose, ammonium molypdate tricloroaxetic axit (Merck); natri-phytate (Sigma, P3168) đều tinh sạch ở mức phân tích. 2.1.2. Phương pháp nghiên cứu * Xác định hoạt tính enzyme phytase BacP Hoạt tính enzyme phytase được xác định theo phương pháp của Shimizu, năm 1992 [15]. Lượng phosphate vô cơ (Pvc) giải phóng dưới tác dụng của phytase được xác định bằng dung dịch thử màu, dung dịch có chứa 4 lần thể tích dung dịch A (1,5% amoniummolypdate (NH4)6Mo7O24 pha trong dung dịch 5,5% H2SO4 ) và 1 lần thể tích dung dịch B (2,7% FeSO4.7H2O). So mầu trên máy quang phổ tử ngoại khả kiến ở bước sóng 700 nm và định lượng Pvc trong dịch enzyme dựa vào đồ thị chuẩn Pvc với hàm lượng NaH2PO4 từ 0,05 đến 1 mM. Một đơn vị hoạt tính phytase (IU) được quy định là lượng enzyme để giải phóng 1 µmol Pvc trong 1 phút ở điều kiện thí nghiệm. * Biểu hiện enzyme BacP trong dịch nuôi cấy chủng E. coli BL21(DE3) tái tổ hợp Chủng E. coli BL21(DE3) tái tổ hợp mang gen phyC được hoạt hóa bằng cách cấy 1 khuẩn lạc từ đĩa thạch giữ giống ở 4-10℃vào đĩa thạch chứa môi trường LBA và nuôi trong tủ 37ºC. Từ một khuẩn lạc trên đĩa môi trường thạch hoạt hóa cấy vào 25ml LBA trong bình nón, thể tích 100ml, nuôi lắc ở 37ºC và 200 vòng/phút. Giống vi khuẩn đã hoạt hóa được bổ sung vào 200ml 124 Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men… môi trường LBA lỏng trong bình tam giác 1000 ml sao cho OD620 ban đầu đạt 0,1; nuôi lắc ở 37ºC và 200 vòng/phút cho đến khi OD620 đạt giá trị 1,0 -100 (Giai đoạn tăng sinh khối). Gen mã hóa phytase được kích hoạt biểu hiện bằng cách bổ sung chất cảm ứng - IPTG 1mM hoặc lactose (1-12,5 mM) và CaCl 10mM khi OD620 đạt giá trị 1,0 – 100 (tùy thuộc vào chiến lược lên men) và nồng độ Pvc < 1mM. Lấy mẫu (3 mL) định kỳ 1 giờ/lần để kiểm tra khả năng sinh trưởng và sinh tổng hợp phytase. * Thu hồi enzyme BacP từ dịch nuôi cấy và tế bào Dịch nuôi cấy E. coli BL21(DE3) tái tổ hợp mang gen phyC được li tâm 8000 vòng/phút trong 10 phút để thu dịch nổi (dịch enzyme trong dịch nuôi) và cặn tế bào. Cặn tế bào được hòa trong dung dịch đệm 100mM Tris – HCl pH = 7, 5mM CaCl2 với thể tích bằng 1/10 thể tích ban đầu, đặt trong nước đá (0ºC) và đem phá tế bào bằng sóng siêu âm với âm tần 20kHz, lặp lại 4 vòng (mỗi vòng gồm 1 phút siêu âm từ mức 10 đến 50% công suất và 1 phút nghỉ). Dịch phá tế bào được li tâm thu dịch nổi (dịch enzyme trong tế bào) và loại bỏ cặn là các mảnh vỡ tế bào. * Tinh sạch enzyme BacP Enzyme BacP được tinh sạch bằng sắc kí ái lực IMAC (Immobilized metal affinity chromatography). Cột sắc kí ái lực chứa hạt gel mang nhóm chức NTA (nitrilotriacetic acid) gắn với Ni2+, protein tái tổ hợp chứa đuôi 6-His tag (đuôi 6 histidine) có khả năng tạo liên kết tĩnh điện với ion kim loại Ni2+, giúp protein này được giữ lại trên hạt gel và được chiết rút bằng lực ion khi môi trường có chất cạnh tranh (imidazole) với đuôi 6-His tag ở nồng độ cao. Quy trình tinh sạch gồm 05 bước: (1) Cân bằng cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột (100mM Tris – HCl pH = 7, 300 mM NaCl, 5mM CaCl2, 1% Glycerol); (2) Gắn protein đích: Mẫu protein enzyme (trong dung dịch 100mM Tris – HCl pH = 7, 5 mM CaCl2 và dung dịch đệm cân bằng cột được trộn theo tỉ lệ thể tích 1 mẫu protein: 1 dung dịch đệm) được bổ sung vào cột; (3) Rửa cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột; (4) Chiết enzyme khỏi cột bằng dung dịch đệm chiết enzyme (100mM Tris – HCl pH = 7, 300 mM NaCl, 5mM CaCl2, 1% Glycerol, 250mM imidazol); (5) Cân bằng lại cột bằng dung dịch đệm cân bằng cột. Vận tốc dòng chảy trong suốt quá trình tinh sạch là 1 mL/phút. Protein tổng số trong dung dịch được xác định bằng phản ứng màu với coomasie brilliant blue [16]. Kích thước phytase BacP được xác định bằng điện di SDS-PAGE trên gel polyacrylamide 12,5% (w/v) và vị trí của các băng vạch protein sẽ được hiển thị bằng cách nhuộm bản gel trong dung dịch coomassie brillant blue [17]. Trọng lượng phân tử protein được xác định bằng protein chuẩn của hãng Lonza. 2.2. Kết quả và thảo luận 2.2.1. Hoạt hóa, đánh giá và lựa chọn chủng E. coli BL21(DE3) tái tổ hợp mang gen mã hóa phytase từ Bacillus subtilis Plasmid tái tổ hợp pE10C2 mang đoạn ADN ngoại lai (phyC) mã hóa phytase kiềm (BacP) của Bacillus subtilis được bảo quản trong tế bào chủ tách dòng E. coli NB của hãng Novagen. Để phục vụ mục đích lên men, biểu hiện gen trong E. coli, chúng tôi đã tách chiết, tinh sạch plasmid này từ dịch nuôi cấy E. coli NB tái tổ hợp và biến nạp vào tế bào khả biến E. coli BL21(DE3). Kết quả biến nạp vào hai dòng tế bào chủ E. coli BL21(DE3) khả biến BL và OS thu được một số khuẩn lạc to và tách biệt trên môi trường thạch LB có chứa kháng sinh ampicilin 100 µg/mL như một yếu tố chọn lọc. Các khuẩn lạc mọc trên môi trường này đều là các khuẩn lạc mang plasmid tái tổ hợp pE10C2, tuy nhiên, chúng tôi vẫn thực hiện việc kiểm tra lại sự có mặt của gen phyC trong một số dòng tế bào được lựa chọn ngẫu nhiên từ các khuẩn lạc mọc tách biệt trên đĩa thạch môi trường LB có chứa kháng sinh ampicilin 100 µg/mL bằng phản ứng PCR với cặp mồi đặc hiệu cho gen phyC. Kết quả điện di để kiểm tra sự nhân lên của gen phyC trong phản 125 Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc ứng PCR trực tiếp từ dịch phá vỡ tế bào của các dòng E. coli kiểm tra đều dương tính (Hình 1). Như vậy, các dòng tế bào này đều mang đoạn ADN đích (gen phyC), đoạn ADN có kích thước khoảng 1,1 kb (đúng với kích thước của gen phyC). Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm phản ứng PCR nhân gen phyC trực tiếp từ khuẩn lạc Chú thích: ADN ladder: Thang chuẩn ADN; plasmid pE10C2: đối chứng dương (phản ứng PCR có ADN khuôn là plasmid pE10C2 tách chiết từ E. coli NB); BL3, 5 và 6: dòng tế bào biến nạp E. coli BL21 (DE3), OS1 và 2: dòng tế bào biến nạp nhanh E. coli One shotBL21 (DE3) Kết quả đánh giá khả năng biểu hiện của các dòng E. coli mang gen mã hóa phytase kiềm, phyC, được trình bày trong Hình 2. Trên môi trường LBA, sử dụng 1 mM IPTG cùng với 10 mM CaCl2 làm chất kích hoạt biểu hiện khi OD620 đạt giá trị 1, cả 5 dòng E. coli kiểm tra đều biểu hiện protein tái tổ hợp có hoạt tính phytase từ 0,03 IU/mL đến 1,73 IU/mL trong dịch nuôi cấy (Hình 2). Mẫu đối chứng được kích hoạt bằng nước và 10mM CaCl2 không thể hiện hoạt tính. Tuy nhiên, protein tái tổ hợp từ các dòng được biểu hiện sau 6 giờ kích hoạt và đạt cực đại sau 20 giờ kích hoạt; chậm hơn so với nghiên cứu của Tran và cs (2010)là 3 và 10 giờ [13]. Khác biệt này có thể do tốc độ sinh trưởng tại thời điểm kích hoạt của các dòng E. coli tái tổ hợp trong nghiên cứu này (OD620 1,0 sau 3 giờ nuôi cấy) thấp hơn rất nhiều so với tốc độ sinh trưởng của quần thể vi sinh vật tại thời điểm kích hoạt nghiên cứu của Tran và cs (OD620 = 10,8). Hình 2. Đánh giá khả năng biểu hiện gen phyC của 5 dòng E. coli tái tổ hợp 126 Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men… Sau 22 giờ nuôi cấy, dòng BL5 và BL6 cho khả năng tổng hợp phytase cao hơn so với 3 chủng còn lại (1,7 IU/ml), tuy nhiên dòng BL5 sinh trưởng tốt hơn trên môi trường LBA (OD620 đạt 4,7) so với dòng BL6 (OD620 đạt 4,2). Do đó, chúng tôi lựa chọn dòng BL5 cho các nghiên cứu tiếp theo. 2.2.2. Lên men và thu hồi phytase BacP tái tổ hợp Từ kết quả đánh giá biểu hiện của các dòng biến nạp, chúng tôi nhận thấy chủng sản xuất sinh trưởng tốt trên môi trường LBA. Tuy nhiên, do giá thành của tryptone – thành phần quan trọng trong môi trường LBA tương đối cao nên chúng tôi tiến hành các thí nghiệm tiếp theo trên môi trường LBA cải tiến sử dụng peptone làm nguồn cung cấp carbon và nitơ. Chất kích hoạt biểu hiện có vai trò rất quan trọng quyết định đến quá trình sinh tổng hợp phytase, do đó để lựa chọn được chất kích hoạt phù hợp với nồng độ thích hợp là rất cần thiết. Dựa vào kết quả nghiên cứu của Tran (2010), sử dụng IPTG và lactose làm chất kích hoạt đạt kết quả tương đối cao với tổng hoạt tính thu được khi kích hoạt sử dụng IPTG là 10 U/mL và đạt 71 U/mL khi sử dụng lactose, chúng tôi tiến hành lên men tổng hợp phytase trên chủng sản xuất với cả hai chất kích hoạt là IPTG và lactose. Các chất kích hoạt được bổ sung vào môi trường nuôi cấy với nồng độ lần lượt: 1mM IPTG và 12,5 mM lactose cùng với 10 mM CaCl2, khi tế bào E. coli đang ở trong pha sinh trưởng cấp số. * Kết quả kích hoạt biểu hiện gen phyC bằng IPTG IPTG là một trong các chất kích hoạt biểu hiện gen rất phổ biến trong các nghiên cứu tổng hợp enzyme tái tổ hợp. IPTG liên kết với lacI và bất hoạt chúng nhưng nó không phải là cơ chất của β– galactosidase nên không bị chuyển hóa thành sản phẩm khác, đồng thời nồng độ của chúng cũng không đổi do không bị chuyển hóa bởi E. coli [18]. Sau khi kích hoạt bằng IPTG, chúng tôi thu mẫu tế bào và dịch nuôi cấy để tiến hành xác định hoạt tính phytase tổng số. Dòng E. coli BL5 bắt đầu tổng hợp phytase sau 6 giờ nuôi cấy. Hoạt tính phytase tăng dần từ 4,25 IU/mL và đạt cao nhất sau 14 giờ kích hoạt biểu hiện (đạt 12 IU/mL) tại thời điểm OD620 đạt 3,36. Sau đó, quá trình tổng hợp phytase tái tổ hợp rơi vào pha cân bằng; sau 21 giờ nuôi cấy, mặc dù OD620 vẫn tăng nhẹ đến 28 giờ sau kích hoạt nhưng protein tái tổ hợp không được sinh tổng hợp thêm nữa (Hình 3). Hình 3. Kết quả kích hoạt biểu hiện gen phyC bằng IPTG Trong 3 giờ đầu sau khi kích hoạt biểu hiện gen, enzyme phytase tái tổ hợp được biểu hiện chủ yếu trong tế bào khoảng 4,25 IU/mL (không đo được hoạt tính phytase bên ngoài dịch nuôi cấy). Sau 6 giờ kích hoạt biểu hiện gen, một lượng phytase tái tổ hợp (20 - 30% tổng hoạt tính phytase 127 Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc biểu hiện) đã xuất hiện trong dịch nuôi tế bào. Hoạt tính phytase thoát ra bên ngoài tế bào, trong dịch nuôi tăng dần đạt mức 50-60% tổng hoạt độ phytase tái tổ hợp đo được. Việc enzyme tái tổ hợp được biểu hiện trong xoang chu chất của tế bào E. coli thoát ra ngoài môi trường nuôi cấy khi có CaCl2 trong môi trường nuôi cấy đã được báo cáo bởi nhiều tác giả Choi và Lee năm 2004 [19], Pugsley năm 1993 [20]; và được giải thích là do lượng protein tái tổ hợp biểu hiện quá nhiều trong xoang chu chất, quá mức chứa của xoang nên đã thoát ra bên ngoài tế bào khi có tác động của ion Ca2+. * Kết quả kích hoạt biểu hiện gen phyC bằng lactose Lactose là chất kích hoạt biểu hiện tự nhiên của hệ thống operon lac. Do có giá thành rẻ hơn chất kích hoạt tổng hợp hóa học IPTG, lactose được dùng nhiều trong kích hoạt biểu hiện gen tái tổ hợp dưới sự điều khiển của lac operator ở quy mô công nghiệp. Tuynhiên, vấn đề của chất kích hoạt nàylà tế bào chủ E. coli luôn có hệ thống enzyme β – galactosidase thủy phân cơ chất này thành đường glucose và lactose phục vụ cho hoạt động sống của E. coli; do vậy, lactose sẽ bị tế bào chủ phân hủy một phần hoặc toàn bộ trong môi trường. Để ngăn ngừa hiện tượng này xảy ra, người ta thường bổ sung lactose với hàm lượng lớn hơn IPTG rất nhiều khi dùng lactose để kích hoạt biểu hiện gen; ngoài ra, người ta cũng sử dụng chiến lược bổ sung thêm lactose trongsuốt quá trình kích hoạt biểu hiện gen. Kết quả thu được khi kích hoạt bằng lactose tương tự với quá trình lên men kích hoạt bằng IPTG, hoạt tính phytase tổng số tăng dần từ 3 giờ sau khi kích hoạt, tăng từ 5,32 IU/mL đến 18,49 IU/mL sau 18 giờ kích hoạt (Hình 4) nhưng sau đó lại giảm. Hoạt tính phytase tái tổ hợp trong xoang tế bào cũng bắt đầu thoát ra bên ngoài tế bào, trong dịch nuôi cấy sau 6 giờ kích hoạt biểu hiện và tăng dần đến mức chiếm 70% tổng hoạt tính phytase sau 18 giờ kích hoạt biểu hiện gen. Theo báo cáo của Tran và cs (2010), hoạt tính phytase tái tổ hợp thoát ra bên ngoài tế bào chủ khi kích hoạt bằng lactose có thể lên đến hơn 90% trong môi trường khoáng cơ sở [13]. Hình 4. Kết quả kích hoạt biểu hiện gen phyC bằng lactose So sánh quá trình sinh tổng hợp phytase khi sử dụng hai chất kích hoạt IPTG và lactose, chúng tôi nhận thấy rằng dòng E. coli tái tổ hợp BL5 có khả năng sinh tổng hợp phytase cao với cả hai chất kích hoạt biểu hiện IPTG và lactose. Tuy nhiên khi sử dụng lactose làm chất kích hoạt chủng có hoạt tính cao gấp 1,53 lần so với sử dụng IPTG (Hình 5); chất kích hoạt này cũng rẻ tiền và dễ kiếm hơn; do đó, chúng tôi lựa chọn lactose làm chất kích hoạt biểu hiện để thu enzyme với lượng lớn để phục vụ cho quá trình tinh sạch phytase. 128 Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men… Hình 5. So sánh hoạt độ phytase BacP tái tổ hợp khi sử dụng chất kích hoạt biểu hiện IPTG và lactose 2.2.3. Tinh sạch phytase BacP tái tổ hợp Sau khi lên men sản xuất phytase BacP tái tổ hợp trên môi trường LBA cải tiến sử dụng chất kích hoạt biểu hiện lactose, chúng tôi tiến hành phá tế bào và tinh sạch phytase theo quy trình đã trình bày ở trên. Theo các báo cáo của các tác giả khác thì kích thước phân tử của BacP là từ 35-50 kDa [13]. Do vậy, chúng tôi tiến hành li tâm dịch phá tế bào qua cột có màng lọc 5 kilodalton, kết quả từ 300 mL dịch enzyme thô chúng tôi thu được 11 2mL dịch li tâm chứa phytase BacP với hoạt độ riêng tăng gấp 1,9 lần và hiệu suất thu hồi đạt 74,12 % (Bảng 1). Phytase BacP tái tổ hợp được tinh sạch từ 112 mL dịch li tâm cô đặc bằng cột sắc kí ái lực cột Ni-NTA 5 mL. Các phân đoạn được thu với thể tích 1 mL/phân đoạn (giai đoạn rửa giải) và 2 mL/phân đoạn (giai đoạn gắn protein), được xác định protein tổng số bằng quang phổ UV với bước sóng 280 nm. Kết quả tinh sạch phytase BacP bằng sắc kí ái lực được trình bày trong Hình 6. Bảng 1. Kết quả tinh sạch phytase BacP tái tổ hợp 129 Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc Hình 6. Sắc kí đồ tinh sạch phytase BacP tái tổ hợp bằng sắc kí ái lực trong cột Ni-NTA Hoạt tính enzyme phytase của các phân đoạn số 20-60; 61-93; 94-115 và 116-145 được kiểm tra đồng thời. Các phân đoạn 20-60; 61-93 và 116-145 đều không có hoạt tính hoặc có hoạt tính rất thấp. Hoạt tính enzyme phytase tái tổ hợp thu được chủ yếu ở phân đoạn 94-115; đỉnh hoạt tính trùng với đỉnh của protein được rửa giải khỏi cột (Hình 6) trong đó hoạt tính trung bình của enzyme thu được ở phân đoạn 99 - 100 cao nhất đạt 148,87 IU/mL. Đây là các phân đoạn mà imidazole bổ sung vào dung dịch đệm đã thay thế hoàn toàn và đẩy được phytase tái tổ hợp ra khỏi cột. Các phân đoạn tinh sạch bằng sắc kí ái lực được kiểm tra độ tinh sạch trên bản điện di SDS - PAGE (Hình 7). Hình 7. Kết quả chạy điện di SDS – PAGE Chú thích: (1) Thang protein chuẩn của Lonza (4,5-300 kDa); (2) Dịch enzyme thô; (3) Dịch enzyme li tâm qua cột 5 kDa; (4) phân đoạn 40; (5) phân đoạn 50; (6) phân đoạn 99 – Enzyme tinh sạch đã được pha loãng 10 lần bằng dung dịch đệm. Kết quả chạy điện di SDS-PAGE tại vị trí đỉnh protein khi rửa giải enzyme (phân đoạn 99) cho thấy có 1 băng vạch xuất hiện đậm nét nằm giữa vạch 40 và 55 KDa của thang protein chuẩn; các vạch phụ khác có hàm lượng protein rất thấp (không rõ nét). Kết quả này tương ứng với kết quả kiểm tra hoạt tính, chứng tỏ enzyme đã được tinh sạch tốt bằng sắc kí ái lực trong cột Ni-NTA. 130 Thu hồi và tinh sạch phytase tái tổ hợp có nguồn gốc từ Bacillus subtilis trong dịch lên men… Phytase kiềm BacP tái tổ hợp có khối lượng khoảng 44 kDa, phù hợp với các nghiên cứu trước đây về phytase kiềm của [21]. 3. Kết luận Bằng phương pháp lên men chủng E. coli BL21(DE3) (mang gen phyC tái tổ hợp) theo mẻ trên môi trường LB cải tiến, chúng tôi đã thu hồi được enzyme BacP tái tổ hợp với hoạt độ 18,49 IU/ml sau 18 giờ kích hoạt bằng lactose hoặc 12 IU/ml sau 14 giờ kích hoạt biểu hiện bằng IPTG. Kết quả tinh sạch bằng sắc kí ái lực thu được enzyme BacP được tinh sạch 4,5 lần, enzyme tinh sạch có hoạt độ riêng đạt 24,48 IU/mg protein. Phytase BacP tinh sạch này sẽ tiếp tục được đánh giá về tính an toàn để có thể ứng dụng trong chế biến thực phẩm. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Cheryan M, 1980. Phytic acid interactions in food systems. CRC Crit Rev Food Sci Nutr, 13, pp. 297-335. [2] Reddy NR, Pierson MD, Sathe SK, Salunkhe DK, 1989. Interactions of phytate with proteins and minerals, In: Reddy NR, Pierson MD, Sathe SK, Salunkhe DK, editors. Phytate in legumes and cereal, CRC Press, pp. 57-70. [3] Harland BF, Morris ERM, 1995. Phytate: A good or a bad food component? Nutrition Reseach,15(5), pp. 733-754. [4] Tran Thi Thuy and Dao Thi Nu, 2017. Synergic effect of different phytase preparations in feed. HNUE Journal of Science, Chemical and Biological Sciences, Vol. 62. Iss.10, pp. 143-152. [5] Greiner R, Konietzny U, Jany KD, 1993. Purification and chacracterization of two phytases from Escherichia coli. Arch Biochem Biophys 303, pp. 107-113. [6] Oh BC, Chang BS, Park KH, Ha NC, Kim HK, 2001. Calcium-dependent catalytic activity of a novel phytase from Bacillus amyloliquefaciens DS11. Biochem (40), pp. 9669-9676. [7] Kerovuo J, Lauraeus M, Nurminen P, Kalkkinen N, Apajalahti J, 1998. Isolation, characterization, molecular gene cloning of a novel phytase from Bacillus subtilis. Appl. Environ Microbiol 64(6), pp. 2079-2085. [8] Kim YO, Kim HK, Bae KS, Yu JH, Oh TK, 1998. Purification and properties of a thermostable phytase from Bacillus sp. DS 11, Enzyme Microbiol Technol 22, pp. 2-7. [9] Tye AJ, Siu F, Leung T, Lim B, 2001. Molecular cloning and the biochemical characterization of two novel phytases from B. subtilis 168 and B. Licheniformis. Appl. Microbiol Biotechnol 59, pp. 190-197. [10] Oh BC, Choi WC, Park S, Kim YO, Oh TK, 2004. Biochemical properties and substrate specificities of alkaline and histidine acid phytase. Appl. Micro Biotech 63, pp. 362- 372. [11] Garchow BG, Jog SP, Mehta BD, Monosso JM, Murthy PP, 2006. Alkaline phytase from Lilium longiflorum: purification and structural characterization. Protein Expression and Purification, 46(2), pp. 221-232. [12] Powar VK and Jagannathan V, 1982. Purification and properties of phytate-specific phosphatase from bacillus subtilis. J. Bacteriol, 151(3), pp. 1102-1108. [13] Tran TT, Mamo G, Mattiasson B, Hatti-Kaul R, 2010. A thermostable phytase from Bacillus sp. MD2: cloning, expression and high-level production in Escherichia coli. J. Industrial Microbiol Biotechnol, 37(3), pp. 279-287. 131 Trần Thị Thúyvà Mai Thị Ngọc [14] Đỗ Thị Ngọc Huyền và cs, 2007. Tinh sạch và xác định tính chất của phytase tái tổ hợp. Tạp chí Công nghệ Sinh học, 5(3), tr. 331-336. [15] Shimizu M, 1992. Purification and characterization of phytase from Bacillus subtilis (natto) N-77. Biosci Biotechnol Biochem, 56(8), pp. 1266-1269. [16] Bradford M, 1976. A rapid and sensitive method for the quantitation of microgram quantities of protein utilizing the principal of protein dye binding. Anal Biochem, 72, pp. 248-254. [17] Laemmli UK, 1970. Cleavage of structural proteins during the assembly of the head of bacteriophage T4, Nature 227(5259), pp. 680-685. [18] https://www.biologicscorp.com/blog/iptg-induction-protein-expression/#.W_HMsegzbIU (16/2/2018). [19] Choi JH, Lee SY, 2004. Secretory and extracellular production of recombinant proteins using Escherichia coli. Appl Microbiol Biotechnol 64, pp. 625-635. [20] Pugsley AP, 1993. The complete general secretory pathway in gram-negative bacteria. Microbiol Rev 57, pp. 50-108. [21] Lehmann M, Kostrewa D, Wyss M, Brugger R, D’Arcy A, Pasamontes L., 2000. From DNA sequence to improved functionality: using protein sequence comparisons to rapidly design a thermostable consensus phytase. Protein Eng, 13, pp. 49-57. ABSTRACT Expression and purificaton of a recombinant phytase originated from Bacillus subtilis in batch cultivation of escherichia coli Tran Thi Thuyand Mai Thi Ngoc Faculty of Biology, Hanoi National University of Education Phytase is an important enzyme in feed and food processing. In this study, common medium (LB broth) have been modified for batch cultivation of E. coli BL21(DE3) to express phyC gene coding for a recombinant phytase (BacP) originated from Bacillus suntilis. Recombinant BacP enzyme was recovered at 18.49 IU/ml after 18 hours of induction by lactose, which was higher than that of induction by isopropyl β-D-1-thio-galactopyranoside (IPTG). Cutivation both was concentrated by filteration through a 5 KDa cutoff membrane and BacP enzyme was purified 4.5 times by affinity chromatography through Ni-NTA column to reach a specific activity of 24,48 IU/mg protein. These shall be a preliminary results for further study on application of phytase enzyme BacP which can catalyse the hydrolysis of phytate to lower myo- inositol phosphate (IP2 and IP3) having potential health benefit in food. Keywords: Phytase, recombinant enzyme, batch cultivation, Bacillus subtilis, Escherichia coli.

Tài liệu liên quan