Mô phỏng mô hình gây khối u bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen trên chuột nhắt

Đăng ngày 9/16/2019 4:57:30 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 4 | Page: 7 | FileSize: 0.43 M | File type: PDF
Mô phỏng mô hình gây khối u bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen trên chuột nhắt. Các mô hình gây khối u trên chuột nhắt cần thiết cho thử nghiệm tiền lâm sàng trong nghiên cứu thuốc điều trị ung thư. Đề tài được tiến hành với mục tiêu xây dựng mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) và đánh giá đáp ứng của mô hình với thuốc paclitaxel (PTX).
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Nghiên cứu Y học
MÔPHỎNGMÔHÌNHGÂYKHỐIUBẰNG
7,12-DIMETHYLBENZ[A]ANTHRACENTRÊNCHUỘTNHẮT
Nguyễn Thị Kim Oanh*, Đỗ Thị Hồng Tươi*
TÓMTẮT
Mục tiêu: Các hình gây khối u trên chuột nhắt cần thiết cho thử nghiệm tiền lâm sàng trong nghiên cứu
thuốc điều trị ung thư. Đề tài được tiến hành với mục tiêu xây dựng hình gây khối u trên chuột nhắt bằng
7,12-dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) đánh giá đáp ứng của hình với thuốc paclitaxel (PTX).
Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt cái Swiss albino được cho uống DMBA pha trong dầu bắp liều 50
mg/kg, 1 lần/tuần × 5 tuần liên tiếp. sinh được cho uống dầu bắp. Vào tuần 20, chuột uống DMBA được
tiêm tĩnh mạch NaCl 0,9% gây khối u hoặc PTX liều 10 mg/kg điều trị; 1 lần mỗi 3 ngày × 5 lần. Vào
tuần 24, tiến hành mổ chuột, quan sát đại thể, khảo sát tình trạng tạo khối u trên các quan, nhuộm HE để phân
tích vi thể các khối u.
Kết quả: Sau 20 tuần, tỷ lệ tử vong uống DMBA 33,3%. Trọng lượng chuột uống DMBA tăng thấp
hơn ý nghĩa thống so với sinh lý. Các khối u trên da bắt đầu xuất hiện vào tuần thứ 12. Về hiệu suất tạo
khối u, 100% chuột uống DMBA lên u. Trong đó, 65% chuột lên u da, u vú; 75% chuột lên u phổi 100%
chuột lên u dạ dày. Về hiệu suất tạo carcinom, 25% chuột carcinoma tế bào gai (ung thư da) 50% chuột
carcinoma tuyến biệt hóa vừa (ung thư phổi). hình đáp ứng với điều trị bằng PTXtiêm tĩnh mạch 1 lần mỗi 3
ngày × 5 lần: PTX hạn chế sự tăng kích thước các khối u ngoài da; giảm hình thành khối u phổi, giảm tổng kích
thước các khối u phổi thay đổi cấu trúc vi thể các khối u da u phổi theo hướng làm các tế bào xung quanh bị
hoại tử.
Kết luận: hình gây khối u trên chuột nhắt bằng cách cho uống DMBA liều 50 mg/kg/tuần × 5
tuần liên tiếp hiệu quả tạo khối u 100% gồm u da, phổi, dạ dày buồng trứng. hình gây
được carcinoma tế bào gai carcinoma phổi tuyến biệt hóa vừa đáp ứng với thuốc hóa trị paclitaxel
tiêm tĩnh mạch 1 lần mỗi 3 ngày × 5 lần.
Từ khóa: 7,12-dimethybenz[a]anthracen, paclitaxel, khối u, chuột Swiss albino
ABSTRACT
ESTABLISH AMOUSE MODEL OF TUMOR
BY 7,12-DIMETHYLBENZ[A]ANTHRACENE (DMBA)
Nguyen Thi Kim Oanh, Do Thi Hong Tuoi
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 655 – 661
Objectives: Precinical mouse tumor models are indispensable for research of anti-cancer drugs. The aim of
this work was to establish a mouse model of 7,12-dimethyl-benz[a]anthracene (DMBA) induced tumor and to
evaluate its response to paclitaxel.
Methods: Female Swiss albino mice were received intragastrically DMBA in corn oil (50 mg/kg body
weight, once per week in 5 continuous weeks). Physiological control group was received corn oil only. After 20
weeks, DMBA-induced cancer mice were received intravenously NaCl 0.9% (10 ml/kg) in pathological group or
five dose of 10 mg/kg paclitaxel in treatment group, once every three days. After 24 weeks, all animals were
*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: PGS. TS. Đỗ Thị Hồng Tươi ĐT: 0908683080
Email: hongtuoi@ump.edu.vn
Chuyên Đề Dược
655
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
sacrificed, observed macroscolic changes and monitored for tumor incidence, tumor growth. Tumors were
characterized by HE staining for histopathological analysis.
Results: After 20 weeks, the mortality in mice group received DMBA was 33.3%. Body weight of mice
treated with DMBA was increased; but it was significant lower than those of physiological control group. Skin
tumors appeared since the week 12. After 24 weeks, all DMBA treated mice (100%) were observed to bear at least
one tumor including 65% mice bearing skin tumors, 75% mice bearing lung tumors and 100% mice bearing
gastric tumors. Histological analysis revealed that 25% DMBA treated mice had squamous cell carcinomas (skin
cancer) and 50% mice had adenocarcinoma (lung cancer). The DMBA-induced cancer model in mice responded to
paclitaxel treatment at the dose of 10 mg/kg, once every 3 days x 5 times. This antineoplastic agent limited the
growth of skin tumors, reduced the number and the total volume of lung tumors. Paclitaxel changed the
microscopic structure of skin and lung tumors by causing the necrosis of surrounding cancer cells.
Conclusion: Mouse tumor model established by providing orally 50 mg/kg of DMBA in corn oil, once a
week for 5 continuous weeks induced skin, lung, and gastric tumors in 100% animals. Some tumors were
squamous cell carcinomas or adenocarcinoma. This model responded to paclitaxel treatment.
Key words: 7,12-dimethylbenz[a]anthracen, paclitaxel, tumor, Swiss albino mice
ĐẶTVẤNĐỀ
Ung thư là một trong những nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế
giới, với khoảng 14 triệu trường hợp mới mắc
và 8,2 triệu ca tử vong liên quan đến ung thư
trong năm 2012(15). Tình hình ung thư tại Việt
Nam tương tự như các nước đang phát triển
được ứng dụng rộng rãi để gây khối u ở vú, da,
phổi và nhiều cơ quan khác trên động vật gặm
nhấm(3,5,7,8). Đề tài thực hiện với mục tiêu mô
phỏng mô hình gây khối u bằng 7,12-dimethyl-
benz[a]anthracen trên chuột nhắt, đánh giá đáp
ứng của mô hình với paclitaxel (PTX).
VẬTLIỆU-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
khác với tỷ lệ mắc cao nhất là ung thư phổi,
vú, dạ dày, cổ tử cung, gan, trực tràng(14). Do
đó, nghiên cứu về thuốc điều trị ung thư
luôn được chú trọng trên toàn thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Các mô hình gây khối u trên chuột rất cần
thiết trong nghiên cứu và phát triển thuốc trị
ung thư, góp phần tìm hiểu cơ sở di truyền của
sự phát triển khối u và tiến triển ung thư, kiểm
tra hiệu quả của thuốc trị ung thư, nghiên cứu
biện pháp chẩn đoán và điều trị ung thư. Hiện
nay, có ba loại mô hình tạo khối u trên chuột: mô
hình ghép dị loài hoặc đồng loài, mô hình cảm
ứng bằng hóa chất và mô hình dùng chuột biến
đổi gen. Trong đó, mô hình cảm ứng bằng hóa
chất là một trong những mô hình tiền lâm sàng
lâu đời và đa dạng nhất được sử dụng trong
nghiên cứu về ung thư(3,6,13). 7,12-
dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) là
hydrocarbon thơm đa vòng có tác dụng gây ung
thư và ức chế miễn dịch ở các loài khác nhau,
Động vật thí nghiệm
Chuột nhắt cái, chủng Swiss albino, 7-8 tuần
tuổi, trọng lượng 20-30 g, được cung cấp bởi
Viện vaccin và sinh phẩm y tế Nha Trang, được
cung cấp thức ăn, nước uống đầy đủ trong suốt
thời gian thử nghiệm.
Hóa chất
7,12-dimethylbenz[a]anthracen (Sigma-
Aldrich, Mỹ); Paclitaxel (Anzatax®, Mayne
Pharm Pty., Ltd, Úc); Dầu bắp Mazola Codaa
(Switzerland AG, Malaysia); NaCl 0,9%
(Bidiphar, Việt Nam); formalin (Guangdong
Guanghua, Trung Quốc).
hình gây khối u trên chuột nhắt bằng
7,12-dimethylbenz[a]-anthracen (DMBA)
Tham khảo một số mô hình gây khối u trên
chuột nhắt bằng DMBA(1,2,5,8,10,11), xây dựng mô
hình gây khối u trên chuột nhắt bằng DMBA và
đánh giá đáp ứng của mô hình với thuốc hóa trị
paclitaxel như sau:
656
Chuyên Đề Dược
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Nghiên cứu Y học
Chuột (40 con) được cho uống dầu bắp (lô
(ghi nhận các đặc điểm về màu sắc (hồng, nhạt
sinh lý) hoặc DMBA trong dầu bắp (0,1 ml/10 g)
màu…), tình trạng bề mặt (nhẵn, không nhẵn…),
liều 50 mg/kg, 1 lần/tuần (thứ 2) × 5 tuần liên
tổn thương (phù nề, sung huyết…). Tách lấy các
tiếp. Chuột được theo dõi sự xuất hiện của các
khối u da, các cơ quan tim, gan, phổi, dạ dày,
khối u; vị trí, kích thước các khối u đến tuần thứ
buồng trứng; rửa sạch bằng NaCl 0,9% lạnh và
20. Sau đó, chuột uống DMBA được chia thành 2
ngâm trong formalin 10%. Sau 48 giờ, quan sát
lô theo trọng lượng cơ thể và kích thước khối u
các cơ quan, đếm số khối u trên phổi, dạ dày,
da gồm lô gây khối u và lô điều trị được tiêm lần
buồng trứng từ đó tính:
lượt dung dịch NaCl 0,9% hoặc paclitaxel (PTX)
dạng dung dịch (Anzatax®) liều 10 mg/kg, 1 lần
mỗi 3 ngày x 5 lần (ký hiệu: ngày 1, 4, 7, 10, 13).
Liều paclitaxel sử dụng trong đề tài được tham
khảo từ một số nghiên cứu để cân bằng tác dụng
kháng khối u và giảm độc tính của hoạt chất,
giảm tỷ lệ chuột chết(4,9). Sau khi tiêm NaCl hoặc
PTX liều cuối 2 tuần, tiến hành giết chuột để
Hiệu suất tạo khối u (%) = [Số chuột có ít
nhất một khối u/Số chuột còn sống] × 100%
Số khối u trung bình trên chuột có khối u =
Tổng số khối utrong lô/số chuột có khối u
Kích thước khối utrung bình: Vtb = Tổng kích
thước khối utrong lô/Tổng số khối utrong lô
Tiến hành xét nghiệm vi thể bằng phương
đánh giá hiệuquả gây khối u và đáp ứng của mô
hình với PTX.
pháp nhuộm hematoxylin-eosin (HE) tại khoa
Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Quận 2, Thành phố
Theo dõi trọng lượng thể của chuột thử
nghiệm
Trọng lượng cơ thể của chuột thí nghiệm
được ghi nhận 1 lần/tuần vào ngày thứ 2. Trong
2 tuần tiêm NaCl hoặc PTX, chuột được cân mỗi
3 ngày trước khi tiêm.
Đánh giá hiệu quả của hình gây khối u
Khối u da được đo kích thước hàng tuần từ
khi xuất hiện đến tuần thứ 20. Từ tuần 20 đến
tuần 24, khối u da được đo kích thước mỗi 3
ngày trước khi tiêm NaCl hoặc PTX. Tính kích
Hồ Chí Minh. Cấutrúc mô, hình thái tế bào phổi,
da, dạ dày… được quan sát dưới kính hiển vi để
đánh giá mức độ tổn thương.
Tính hiệu suất tạo ung thư (carcinom) theo
công thức:
Hiệu suất tạo carinom (%) = Số chuột có
carcinom/Số chuột còn sống × 100%
Xử kết quả thống
Kết quả được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel, trình bày dưới dạng trung bình
thước khối u theo công thức: Kích thước khối u:
V(mm3) = 1/2 × a × b2
Trong đó a, b lần lượt là đường kính lớn nhất
và nhỏ nhất (mm)(12).
Phần trăm khác biệt về kích thước khối u
được tính theo công thức:
Phần trăm khác biệt (% KB) = (Vx-Vt)/Vt × 100
Trong đó Vt: kích thước khối u vào tuần 17
hoặc ngày 1 trước khi tiêm NaCl hoặc PTX và Vx:
kích thước khối u vào tuần 18, 19, 20 hoặc thời
điểm saukhi tiêm NaCl hoặc PTX.
Ở tuần 24, chuột được gây mê bằng đá CO2,
mở khoang bụng và quan sát đại thể các cơ quan
± sai số chuẩn của giá trị trung bình (Mean ±
SEM) và được phân tích thống kê bằng phần
mềm SPSS 20.0. Do các biến số không phân phối
chuẩn, sử dụng phép kiểm Mann - Whitney để
kiểm định sự khác nhau có ý nghĩa. Sự khác
nhaucó ý nghĩa khi giá trị p < 0,05.
KẾTQUẢ
Tỉ lệ sống/chết của chuột thử nghiệm
Trong suốt 24 tuần thử nghiệm, chuột ở lô
sinh lý vẫn khỏe mạnh, không có chuột nào chết.
Đối với chuột được cho uống DMBA, trong 6
tuần đầu, chuột có thể trạng yếu, di chuyển
chậm, 4/30 chuột (13%) chết; trong 5 tuần tiếp
Chuyên Đề Dược
657
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
4 lần xem

Mô phỏng mô hình gây khối u bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen trên chuột nhắt. Các mô hình gây khối u trên chuột nhắt cần thiết cho thử nghiệm tiền lâm sàng trong nghiên cứu thuốc điều trị ung thư. Đề tài được tiến hành với mục tiêu xây dựng mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) và đánh giá đáp ứng của mô hình với thuốc paclitaxel (PTX)..

Nội dung

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học MÔPHỎNGMÔHÌNHGÂYKHỐIUBẰNG 7,12-DIMETHYLBENZ[A]ANTHRACENTRÊNCHUỘTNHẮT Nguyễn Thị Kim Oanh*, Đỗ Thị Hồng Tươi* TÓMTẮT Mục tiêu: Các mô hình gây khối u trên chuột nhắt cần thiết cho thử nghiệm tiền lâm sàng trong nghiên cứu thuốc điều trị ung thư. Đề tài được tiến hành với mục tiêu xây dựng mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng 7,12-dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) và đánh giá đáp ứng của mô hình với thuốc paclitaxel (PTX). Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt cái Swiss albino được cho uống DMBA pha trong dầu bắp liều 50 mg/kg, 1 lần/tuần × 5 tuần liên tiếp. Lô sinh lý được cho uống dầu bắp. Vào tuần 20, chuột uống DMBA được tiêm tĩnh mạch NaCl 0,9% ở lô gây khối u hoặc PTX liều 10 mg/kg ở lô điều trị; 1 lần mỗi 3 ngày × 5 lần. Vào tuần 24, tiến hành mổ chuột, quan sát đại thể, khảo sát tình trạng tạo khối u trên các cơ quan, nhuộm HE để phân tích vi thể các khối u. Kết quả: Sau 20 tuần, tỷ lệ tử vong ở lô uống DMBA là 33,3%. Trọng lượng chuột uống DMBA tăng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với lô sinh lý. Các khối u trên da bắt đầu xuất hiện vào tuần thứ 12. Về hiệu suất tạo khối u, 100% chuột uống DMBA lên u. Trong đó, 65% chuột lên u da, u vú; 75% chuột lên u phổi và 100% chuột lên u dạ dày. Về hiệu suất tạo carcinom, 25% chuột có carcinoma tế bào gai (ung thư da) và 50% chuột carcinoma tuyến biệt hóa vừa (ung thư phổi). Mô hình đáp ứng với điều trị bằng PTXtiêm tĩnh mạch 1 lần mỗi 3 ngày × 5 lần: PTX hạn chế sự tăng kích thước các khối u ngoài da; giảm hình thành khối u phổi, giảm tổng kích thước các khối u phổi và thay đổi cấu trúc vi thể các khối u da và u phổi theo hướng làm các tế bào xung quanh bị hoại tử. Kết luận: Mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng cách cho uống DMBA liều 50 mg/kg/tuần × 5 tuần liên tiếp có hiệu quả tạo khối u là 100% gồm u da, phổi, dạ dày và buồng trứng. Mô hình gây được carcinoma tế bào gai và carcinoma phổi tuyến biệt hóa vừa đáp ứng với thuốc hóa trị paclitaxel tiêm tĩnh mạch 1 lần mỗi 3 ngày × 5 lần. Từ khóa: 7,12-dimethybenz[a]anthracen, paclitaxel, khối u, chuột Swiss albino ABSTRACT ESTABLISH AMOUSE MODEL OF TUMOR BY 7,12-DIMETHYLBENZ[A]ANTHRACENE (DMBA) Nguyen Thi Kim Oanh, Do Thi Hong Tuoi * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 655 – 661 Objectives: Precinical mouse tumor models are indispensable for research of anti-cancer drugs. The aim of this work was to establish a mouse model of 7,12-dimethyl-benz[a]anthracene (DMBA) induced tumor and to evaluate its response to paclitaxel. Methods: Female Swiss albino mice were received intragastrically DMBA in corn oil (50 mg/kg body weight, once per week in 5 continuous weeks). Physiological control group was received corn oil only. After 20 weeks, DMBA-induced cancer mice were received intravenously NaCl 0.9% (10 ml/kg) in pathological group or five dose of 10 mg/kg paclitaxel in treatment group, once every three days. After 24 weeks, all animals were *Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: PGS. TS. Đỗ Thị Hồng Tươi ĐT: 0908683080 Chuyên Đề Dược Email: hongtuoi@ump.edu.vn 655 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 sacrificed, observed macroscolic changes and monitored for tumor incidence, tumor growth. Tumors were characterized by HE staining for histopathological analysis. Results: After 20 weeks, the mortality in mice group received DMBA was 33.3%. Body weight of mice treated with DMBA was increased; but it was significant lower than those of physiological control group. Skin tumors appeared since the week 12. After 24 weeks, all DMBA treated mice (100%) were observed to bear at least one tumor including 65% mice bearing skin tumors, 75% mice bearing lung tumors and 100% mice bearing gastric tumors. Histological analysis revealed that 25% DMBA treated mice had squamous cell carcinomas (skin cancer) and 50% mice had adenocarcinoma (lung cancer). The DMBA-induced cancer model in mice responded to paclitaxel treatment at the dose of 10 mg/kg, once every 3 days x 5 times. This antineoplastic agent limited the growth of skin tumors, reduced the number and the total volume of lung tumors. Paclitaxel changed the microscopic structure of skin and lung tumors by causing the necrosis of surrounding cancer cells. Conclusion: Mouse tumor model established by providing orally 50 mg/kg of DMBA in corn oil, once a week for 5 continuous weeks induced skin, lung, and gastric tumors in 100% animals. Some tumors were squamous cell carcinomas or adenocarcinoma. This model responded to paclitaxel treatment. Key words: 7,12-dimethylbenz[a]anthracen, paclitaxel, tumor, Swiss albino mice được ứng dụng rộng rãi để gây khối u ở vú, da, phổi và nhiều cơ quan khác trên động vật gặm nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế phỏng,mô hìnhtgây khối u bằng 7,12-dimethyl-và 8,2 triệu ca tử vong liên quan đến ung thư benz[a]anthracen trên chuột nhắt, đánh giá đáp trong năm 2012(15). Tình hình ung thư tại Việt Nam tương tự như các nước đang phát triển khác với tỷ lệ mắc cao nhất là ung thư phổi, Động vật thí nghiệm vú, dạ dày, cổ tử cung, gan, trực tràng(14). Do Chuột nhắt cái, chủng Swiss albino, 7-8 tuần tuổi, trọng lượng 20-30 g, được cung cấp bởi Viện vaccin và sinh phẩm y tế Nha Trang, được cung cấp thức ăn, nước uống đầy đủ trong suốt Các mô hình gây khối u trên chuột rất cần thời gian thử nghiệm. thiết trong nghiên cứu và phát triển thuốc trị sự phát triển khối uìvà tiến triển ung thư, kiểm 7,12-dimethylbenz[a]anthracen (Sigma-tra hiệu quả của thuốc trị ung thư, nghiên cứu biện pháp chẩn đoán và điều trị ung thư. Hiện nay, có ba loạilmô hình tạo khối u,trên chuột: mô (Bidiphar, Việt Nam); formalin (Guangdong ứng bằng hóa chất và mô hình dùng chuột biến Mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng chất là một trong những mô hình tiền lâm sàng 7,12-dimethylbenz[a]-anthracen (DMBA) lâu đời và đa dạng nhất được sử dụng trong Tham khảo một số mô hình gây khối u trên nghiên cứu về ung thư(3,6,13). 7,12- chuột nhắt bằng DMBA(1,2,5,8,10,11), xây dựng mô dimethylbenz[a]anthracen (DMBA) là hình gây khối u trên chuột nhắt bằng DMBA và hydrocarbon thơm đa vòng có tác dụng gây ung đánh giá đáp ứng của mô hình với thuốc hóa trị thư và ức chế miễn dịch ở các loài khác nhau, paclitaxel như sau: 656 Chuyên Đề Dược Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuột (40 con) được cho uống dầu bắp (lô sinh lý) hoặc DMBA trong dầu bắp (0,1 ml/10 g) liều 50 mg/kg, 1 lần/tuần (thứ 2) × 5 tuần liên tiếp. Chuột được theo dõi sự xuất hiện của các khối u; vị trí, kích thước các khối u đến tuần thứ 20. Sau đó, chuột uống DMBA được chia thành 2 lô theo trọng lượng cơ thể và kích thước khối u da gồm lô gây khối u và lô điều trị được tiêm lần lượt dung dịch NaCl 0,9% hoặc paclitaxel (PTX) dạng dung dịch (Anzatax®) liều 10 mg/kg, 1 lần mỗi 3 ngày x 5 lần (ký hiệu: ngày 1, 4, 7, 10, 13). Liều paclitaxel sử dụng trong đề tài được tham khảo từ một số nghiên cứu để cân bằng tác dụng kháng khối u và giảm độc tính của hoạt chất, giảm tỷ lệ chuột chết(4,9). Sau khi tiêm NaCl hoặc PTX liều cuối 2 tuần, tiến hành giết chuột để đánh giá hiệuquả gây khối u và đáp ứng của mô hình với PTX. Theo dõi trọng lượng cơ thể của chuột thử nghiệm Trọng lượng cơ thể của chuột thí nghiệm được ghi nhận 1 lần/tuần vào ngày thứ 2. Trong 2 tuần tiêm NaCl hoặc PTX, chuột được cân mỗi 3 ngày trước khi tiêm. Đánh giá hiệu quả của mô hình gây khối u Khối u da được đo kích thước hàng tuần từ khi xuất hiện đến tuần thứ 20. Từ tuần 20 đến tuần 24, khối u da được đo kích thước mỗi 3 ngày trước khi tiêm NaCl hoặc PTX. Tính kích thước khối u theo công thức: Kích thước khối u: V(mm3) = 1/2 × a × b2 Trong đó a, b lần lượt là đường kính lớn nhất và nhỏ nhất (mm)(12). Phần trăm khác biệt về kích thước khối u được tính theo công thức: Phần trăm khác biệt (% KB) = (Vx-Vt)/Vt × 100 Trong đó Vt: kích thước khối u vào tuần 17 hoặc ngày 1 trước khi tiêm NaCl hoặc PTX và Vx: kích thước khối u vào tuần 18, 19, 20 hoặc thời điểm saukhi tiêm NaCl hoặc PTX. Ở tuần 24, chuột được gây mê bằng đá CO2, mở khoang bụng và quan sát đại thể các cơ quan Chuyên Đề Dược (ghi nhận các đặc điểm về màu sắc (hồng, nhạt màu…), tình trạng bề mặt (nhẵn, không nhẵn…), tổn thương (phù nề, sung huyết…). Tách lấy các khối u da, các cơ quan tim, gan, phổi, dạ dày, buồng trứng; rửa sạch bằng NaCl 0,9% lạnh và ngâm trong formalin 10%. Sau 48 giờ, quan sát các cơ quan, đếm số khối u trên phổi, dạ dày, buồng trứng từ đó tính: Hiệu suất tạo khối u (%) = [Số chuột có ít nhất một khối u/Số chuột còn sống] × 100% Số khối u trung bình trên chuột có khối u = Tổng số khối utrong lô/số chuột có khối u Kích thước khối utrung bình: Vtb = Tổng kích thước khối utrong lô/Tổng số khối utrong lô Tiến hành xét nghiệm vi thể bằng phương pháp nhuộm hematoxylin-eosin (HE) tại khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Cấutrúc mô, hình thái tế bào phổi, da, dạ dày… được quan sát dưới kính hiển vi để đánh giá mức độ tổn thương. Tính hiệu suất tạo ung thư (carcinom) theo công thức: Hiệu suất tạo carinom (%) = Số chuột có carcinom/Số chuột còn sống × 100% Xử lý kết quả và thống kê Kết quả được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn của giá trị trung bình (Mean ± SEM) và được phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0. Do các biến số không phân phối chuẩn, sử dụng phép kiểm Mann - Whitney để kiểm định sự khác nhau có ý nghĩa. Sự khác nhaucó ý nghĩa khi giá trị p < 0,05. KẾTQUẢ Tỉ lệ sống/chết của chuột thử nghiệm Trong suốt 24 tuần thử nghiệm, chuột ở lô sinh lý vẫn khỏe mạnh, không có chuột nào chết. Đối với chuột được cho uống DMBA, trong 6 tuần đầu, chuột có thể trạng yếu, di chuyển chậm, 4/30 chuột (13%) chết; trong 5 tuần tiếp 657 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 theo, không có chuột nào chết; từ tuần 12, một số chuột xuất hiện khối u da kèm hiện tượng chết rải rác đến tuần 20. Sau 20 tuần, tổng cộng có 10/30 chuột uống DMBA chết và ở lô sinh lý không có chuột nào chết. Từ tuần 20 đến 24, 1/10 chuột ở lô gây khối uvà 2/10 chuột ở lô điềutrị tiếp tục chết. Sự thay đổi trọng lượng cơ thể của chuột thử nghiệm Trọng lượng trung bình của chuột sinh lý và chuột cho uống DMBA ở đầu thử nghiệm khác biệt không đáng kể, lần lượt 26,23 g và 24,88 g (p > 0,05). Trong 24 tuần thử nghiệm, chuột ở lô sinh lý tăng cân đều. Trong 20 tuần đầu, chuột uống DMBA tăng cân nhưng trọng lượng cơ thể thấp hơn lô sinh lý (p < 0,01); trong đó trọng lượng không tăng, giảm nhẹ trong khoảng tuần 4 đến tuần 6 và tuần 12 đến tuần 13. Kết quả này phù hợp với hiện tượng chuột suy giảm thể trạng rõ rệt sau 5 lần uống DMBA và thời điểm xuất hiện khối u da. Từ tuần 20 đến tuần 24, chuột ở lô gây khối u tăng cân không đáng kể trong khi chuột ở lô điều trị giảm cân. Điều này có thể giải thích do tác dụng phụ của paclitaxel làm suy giảm thể trạng chuột(4,9). Khả năng gây khối u da Chuột sinh lý khỏe mạnh, không xuất hiện khối u da trong thời gian thử nghiệm. Ở chuột uống DMBA, khối uda bắt đầuxuất hiện từ tuần 12. Sau 13 tuần, 20,8% chuột xuất hiện khối u nhỏ ở vùng bụng và ngực, nhiều nhất ở vùng gần vú. Tỷ lệ chuột có khối u tăng dần theo thời gian: 50,0% sau 17 tuần, 65% sau 20 tuần (13/20 chuột). Một số khối u xuất hiện ở đầu, chân, đuôi. Khối u cứng, có kích thước không đều, gây đau khi chạm vào. Một số chuột có nhiều hơn một khối u. Kích thước các khối u tăng dần theo thời gian, kích thước trung bình khoảng 6 mm3 vào tuần 20. Phần trăm khác biệt về kích thước khối u da của tuần 18, 19 và 20 so với tuần 17 lần lượt là 94,1%; 230,4% và 293,5%. Kích thước khối u da 658 ở lô gây và lô điều trị paclitaxel từ khi bắt đầu điềutrị (ngày 1) được trình bày trong Bảng 1. Bảng 1: Kích thước khối u da chuột từ khi điều trị (ngày 1) Kích thước khối u da (Trung bình ±SEM) Ngày Lô gâykhối u (mLô điều trị paclitaxel (n = 6 - 7) (n = 4 - 6) Ngày1 5,55 ±2,83 5,73 ±1,69 Ngày4 7,41 ±3,84 5,29 ±1,47 Ngày7 9,43 ±4,98 6,15 ±2,10 Ngày10 14,21 ±8,09 6,43 ±2,45 Ngày13 15,59 ±8,88 6,44 ±2,76 Ngày16 19,78 ±12,35 6,29 ±3,35 Ngày19 22,17 ±14,23 5,87 ±3,66 Ngày22 24,92 ±16,51 5,68 ±4,05 Ngày25 26,96 ±18,22 5,54 ±4,29 Kết quả cho thấy sự thay đổi kích thước khối u giữa lô gây khối u và lô điều trị PTX khác biệt đáng kể. So với ngày 1, kích thước khối u của cả hai lô đều tăng. Ở lô gây khối u, kích thước khối u tăng mạnh từ ngày 4 đến 13; sau ngày 13, kích thước khối u tăng 30-50% so với ngày 13. Trong khi đó, sau ngày 7, ở lô điều trị, kích thước khối ugần như không thay đổi. Kết quả phân tích vi thể cho thấy ở lô gây khối u, 100% (6/6) khối u da ở tình trạng carcinom, trong khi tỷ lệ này ở lô điều trị với paclitaxel là 50% (2/4). Đa số là carcinom tế bào gai (mô đệm bên dưới thấm nhập nhiều lympho bào, lớp thượng bì rải rác vài ổ vi áp xe, lớp sừng dày, nhiều đám tế bào gai ung thư). Ở lô gây khối u, carcinom tế bào gai kèm mô đệm thấm nhập nhiều bạch cầu nhân múi, tăng sản nhiều vi mạch, hiện tượng sung huyết, xuất huyết trong khi ở lô điều trị, tình trạng tăng sản vi mạch, sung huyết, xuất huyết không được ghi nhận, đặc biệt vài vùng tế bào gai ung thư có hiện tượng hoại tử khu trú. Kết quả phân tích vi thể cùng với kết quả về sự thay đổi kích thước khối u cho thấy cho chuột uống DMBA liều 50 mg/kg, 1 lần/tuần x 5 tuần liên tiếp đã gây được khối u da đáp ứng với điều trị bằng paclitaxel. Chuyên Đề Dược Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Hình 1: Vi thể carcinoma tế bào gai ở lô gây khối u (trái) và lô điều trị PTX (phải) Khả năng gây khối u phổi Sau 24 tuần, kết quả cho thấy bên trong cơ thể tất cả chuột thử nghiệm có tim, gan bình thường. Một số chuột ở lô gây khối u và điều trị có phổi nhạt màu và có khối u; dạ dày có một số vị trí lồi lên; có khối u buồng trứng, quan sát rõ mạch máu tăng sinh đến nuôi khối u. Sau 48 giờ ngâm trong formalin 10%, quan sát thấy chuột sinh lý không có khối u trên các cơ quan khảo sát, chuột uống DMBA có tim và gan bình thường, không có khối u. Kết quả quan sát thấy 8/9 chuột ở lô gây khối u và 6/8 chuột ở lô điều trị có khối u phổi hình tròn hoặc bầu dục, màu trắng đục, cứng (Hình 2). Kết quả về số lượng và tổng kích thước trung bình của các khối u phổi trên mỗi chuột có khối u ở 2 lô được trình bày ở Bảng 2. Chuyên Đề Dược Hình 2: Các khối u phổi sau khi ngâm formalin 10% ở lô gây khối u (trái) và lô điều trị (phải) Bảng 2: Số khối u phổi, tổng kích thước các khối u phổi trung bình của mỗi chuột có khối u Lô gâykhối u Lô điều trị (n = 8) paclitaxel (n = 6) Số khối u trung bình 4,25 ±1,10 1,67 ±0,33 Tổng kích thước trung bình của các khối u ởmỗi 5,70 ±1,58 2,12 ±1,01 chuột (mm3) Ở lô gây khối u, mỗi chuột mang khối u có trung bình 4,25 khối u phổi trong khi chuột ở lô điều trị có 1,67 khối u trên mỗi chuột; khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tương tự, tổng kích thước khối u phổi trung bình ở mỗi chuột của lô gây khối u cao gấp 2,5 lần so với lô điều trị (5,70 mm3 vs 2,12 mm3,p > 0,05). Sự khác biệt giữa lô gây khối u và lô điều trị của cả hai thông số này không có ý nghĩa vì chuột được phân lô ngẫu nhiên, không xác định được các thông số trước khi mổ. Tuy nhiên kết quả bước đầu cho thấy điều trị paclitaxel có thể giúp không làm tăng thêm khối uphổi mới. 659 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Phân tích vi thể cho thấy đa số khối u phổi của chuột ở lô gây khối u và lô điều trị có tình trạng carcinom tuyến biệt hóa vừa (một hoặc nhiềuổ ung thư) kèm hiện tượng viêm phế quản mạn (thấm nhập nhiều lympho bào, tương bào). Ở lô điều trị, tế bào lympho phân bố khắp khối u, mật độ tế bào xung quanh khối u giảm; hiện tượng hoại tử xung quanh khối u. Điều này có thể giải thích do khối u đáp ứng với paclitaxel. Các tế bào bên ngoài của khối u được tiếp xúc với thuốc, chịutác động của thuốc, tạo vùng hoại tử kèm theo hiện tượng viêm (Hình 3). Hình 3: Vi thể carcinoma phổi của chuột ở các lô gây khối u (trái) và lô điều trị PTX (B) Khả năng gây khối u dạ dày Sau 24 tuần, 100% chuột ở 2 lô có khối u dạ dày, tập trung chủ yếu ở mặt trong dạ dày trước, dạng cục hoặc u nhú. Tuy nhiên, kết quả phân tích vi thể cho thấy các khối u dạ dày ở tình trạng viêm mạn tính kèm tăng sản tế bào sừng, do đó đề tài không báo cáo kết quả về số lượng 660 và tổng kích thước trung bình của các khối u dạ dày. Khả năng gây khối u buồng trứng Sau24 tuần, ở mỗi lô gây khối u và lô điều trị có 1 chuột có khối u buồng trứng, đường kính lần lượt 20 mm và 5 mm. Vi thể cho thấy khối u buồng trứng ở tình trạng carcinom; tuy nhiên lô điều trị có tình trạng hoại tử tế bào ung thư; chứng tỏ mô hình đáp ứng với paclitaxel. BÀNLUẬN Đề tài cho chuột nhắt cái uống DMBA liều 50 mg/kg/tuần × 5 tuần liên tiếp tạo khối u (da, phổi, dạ dày) ở 100% chuột còn sống sau 24 tuần. Tỷ lệ này cao hơn mô hình 1 mg/chuột/tuần × 5 tuần với 50-70% chuột có khối u và tương đương mô hình liều 1 mg/chuột/tuần × 6 tuần có 100% chuột lên u sau 20 tuần(2,7). Kết quả có thể giải thích do liều DMBA tính theo trọng lượng cơ thể chuột, phù hợp hơn với tình trạng chuột tăng trọng lượng theo thời gian. Sau 20 tuần, tỷ lệ chuột sống 66,7% tương đương với các báo cáo trước đây(2,10). Chuột chết chủ yếu vào giai đoạn uống DMBA và giai đoạn xuất hiện khối u. Điều này có thể giải thích do DMBA vừa thể hiện độc tính cấp, gây chết chuột trong thời gian sử dụng, vừa có độc tính lâu dài, vừa là tác nhân gây ung thư vừa thúc đẩy ung thư phát triển(1,10,11). Tỷ lệ gây khối u da 61,9%, phổi 75%, dạ dày 100%. Vị trí gây khối u đa dạng do DMBA là tác nhân gây độc toàn thân, được sử dụng theo đường uống. Tỷ lệ gây khối u cao hơn các báo cáo trước do liều DMBA được tính theo trọng lượng (50 mg/kg/tuần so với 1 mg/chuột/tuần) phù hợp với tình trạng trọng lượng cơ thể chuột tăng theo thời gian. Về tỷ lệ tạo carcinom, mô hình gây được carcinom ở da và phổi với tỷ lệ trên 30%; chưa tạo được carcinom dạ dày, chỉ ở giai đoạn viêm mạn (tiền carcinoma) mặc dù tỷ lệ gây khối udạ dày là 100%. Mô hình đáp ứng với paclitaxel, thể hiện qua những thay đổi về đại thể và vi thể của khối u. Ở lô điều trị paclitaxel, các khối u da có kích thước Chuyên Đề Dược Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học không tăng so với thời điểm bắt đầu điều trị trong khi ở lô chứng bệnh, kích thước các khối u da tăng nhiều. Đáp ứng của khối u phổi với paclitaxel có thể thấy qua kết quả phân tích vi thể: ổ ung thư có mật độ tế bào giảm ở xung quanh do khối u đáp ứng với thuốc nên bị hoại tử những tế bào ở vùng tiếp xúc với thuốc, đồng thời có hiện tượng viêm, hiện diện nhiều lympho bào khắp ổ ung thư. Từ đó có thể ứng dụng mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng DMBA để khảo sát tác động phòng ngừa và/hoặc điều trị ung thư của các chất/dược liệu có tiềm năng. KẾTLUẬN Đề tài mô phỏng được mô hình gây khối u trên chuột nhắt bằng cách cho uống DMBA liều 50 mg/kg/tuần × 5 tuần liên tiếp với hiệu suất 100% chuột có khối u ở da, phổi, dạ dày, buồng trứng sau 24 tuần; hiệu suất tạo ung thư là 100% carcinom tế bào gai, 75% carcinom phổi. Mô hình đáp ứng với paclitaxel 10 mg/kg, tiêm tĩnh mạch 1 lần mỗi 3 ngày x 5 lần giúp hạn chế sự tăng kích thước khối u, giảm hình thành khối u mới và gây hoại tử tế bào ung thư. TÀILIỆUTHAMKHẢO 1. Aldaz CM, et al. (1996). "Medroxyprogesterone acetate accelerates the development and increases the incidence of mouse mammary tumors induced by dimethylbenzanthracene".Carcinogenesis,17(9):pp.2069-2072. 2. Blanco-Aparicio C, et al. (2006). "Mice expressing myrAKT1 in the mammary gland develop carcinogen-induced ER-positive mammary tumors that mimic human breast cancer". Carcinogenesis,28(3):pp.84-594. 3. Cekanova M, et al. (2014). "Animal models and therapeutic molecular targets of cancer: utility and limitations". Drug Design,Developmentand Therapy,8:pp.1911-1922. 4. Cirstoiu-Hapca A, et al. (2010). “Benefit of anti-HER2-coated paclitaxel-loaded immuno-nanoparticles in the treatment of Chuyên Đề Dược disseminated ovarian cancer: Therapeutic efficacy and biodistributioninmice”.JControlRelease,144 (3):pp.324-31. 5. Currier N. et al. (2005). "Oncogenic signaling pathways activatedinDMBA-inducedmousemammary tumors". Toxicol Pathol,33 (6):pp.726-737. 6. Datta A. etal.(2014). Development of mouse models for cancer research. In: Ashish S. Verma, Anchal Singh. Animal Biotechnology, 1st edition, pp 73-94. Academic Press, San Diego. 7. Đỗ Thị Thảo và cộng sự (2009). "Gây u thực nghiệm trên chuột bằng DMBA (7,12 dimethyl benz[a]anthracene)". Khoa học ĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCông nghệ.25:tr.107-111. 8. Marcello VTKDO, et al. (2013). "Chemical carcinogenesis by 7,12- dimethylbenz-anthracene in Balb/c mice". BMC Proceedings,7(2):pp.46. 9. Munk JM, et al. (2013). “Imaging of treatment response to the combination of carboplatin and paclitaxel in human ovarian cancerxenografttumorsinmiceusingFDGandFLTPET”. Plos One8(12):pp.e85126. 10. Nicol C, et al. (2004). "PPARg influences susceptibility to DMBA-induced mammary, ovarian and skin carcinogenesis". Carcinogenesis,25:pp.1747-1755. 11. Oliveira KD, et al. (2013). "Higher incidence of lung adenocarcinomas induced by DMBA in connexin 43 heterozygous knockout mice". BioMed Research International, 2013:pp.618475-618481. 12. Pham VP, Chi JH, Nguyen TMN, Duong TT, Le VD, Truong DK, Phan KN (2011). “Effects of breast cancer stem cell extract primed dendritic cell transplantation on breast cancer tumor murine models”. Annual Review & Research in Biology, 1(1): pp.1-13. 13. Ruggeri BA, et al. (2014). "Animal models of disease: Pre-clinical animal models of cancer and their applications and utility in drug discovery". Biochemical Pharmacology. 87(1): pp.150-161. 14. Trần Thị Thu Nga và cộng sự (2013). "Dịch tễ học và giám sát bệnh ung thư trên thế giới và ở Việt Nam". Y học dự phòng. 10(146):tr.308-313. 15. WHO(updatefeb2015).FactsheetN°297.Cancer Ngày nhậnbài báo: 18/10/2018 Ngày phảnbiệnnhậnxét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019 661

Tài liệu liên quan