Chương VIII
Xét đoán: thông giải các sự kiện
§1. Ba Nhân tố trong Xét đoán
Sự xét
MỘT người có khả năng xét đoán giữa một tập hợp các sự
đoán
tốt
biến nhất định thì được xem là có giáo dục, có rèn luyện, dẫu học
thức của người đó ở mức độ nào. Và nếu các trường học của
chúng ta đào tạo nên những học sinh với thái độ tinh thần mà ở
vào
hoàn
cảnh
nào
cũng
khả
năng
xét
đoán
tốt,
khi
đó
các
trường
học
quả
đã
làm
được
nhiều
điều
hơn
chỉ
đào
tạo
ra
những
học
sinh
chứa
trong
đầu
hàng
kho
thông
tin
hoặc
thành
thạo kỹ năng trong những lĩnh vực chuyên sâu. Để biết thế nào là
năng lực xét đoán tốt trước tiên chúng ta cần biết xét đoán là gì.
Xét
Phải thừa nhận một điều là giữa xét đoán và suy luận có sự
đoán
và suy
luận
nối kết mật thiết. Mục đích của suy luận là tự hoàn tất chính nó
trong một xét đoán trọn vẹn về tình huống, và quá trình suy luận
diễn tiến qua một loạt các xét đoán cấu thành và trung gian, vậy
những
đơn
vị,
những
điều
kiện
của
suy
luận
này
khi
chúng
ta
kiểm
tra
riêng
từng
thứ
thì
chúng
cái
gì?
Những
đặc
điểm
trọng yếu có thể gom được ngay từ nơi việc đắn đo các thao tác
mà từ xét đoán thoạt đầu áp dụng: cụ thể, đó là trong phán quyết
trước những vấn đề tranh chấp về luật – quy trình ra quyết định
của vị thẩm phán trước tòa. có ba đặc điểm như thế, đó là: (1)
một tranh chấp, gồm những yêu sách khẳng quyết trái ngược về
cùng một tình huống khách quan; (2) một quá trình định nghĩa và
bổ sung chi tiết những yêu sách này cũng như sàng lọc các sự
việc đã viện dẫn để chứng tỏ các yêu sách đó; (3) một quyết định
chung cuộc, hay bản án, khép lại vấn đề cụ thể gây tranh cãi và
được dùng làm quy tắc hay nguyên lý định đoạt những sự vụ về
sau.
sự
1.
Trừ
phi
còn
nghi
hoặc,
chỉ
thoáng
nhìn
thì
ai
cũng
đọc
không
chắc
chắn là
cửa đi
được tình huống; nó được nhập tâm tức khắc, nghĩa là ngay tại
đó chỉ có sự thấy biết, nhận thức, thừa nhận chứ không có sự xét
đoán. Chỉ khi nào vấn đề trở nên hoàn toàn đáng ngờ, khi nó vẫn
vào xét
hoàn toàn mù mịt và khó hiểu, thì khi đó chỉ có sự bí hiểm và
đoán
không dẫn tới xét đoán nào cả. Nhưng nếu nó gợi đến, dù hàm hồ
mức nào chăng nữa, những ý nghĩa khác nhau, những giải thích
khả dĩ mang tính cách đối chọi, thì khi đó ta có một điểm gây
tranh
cãi,
một
vấn
đề
nan
giải
nào
đó.
Sự
nghi
hoặc
ẩn
dưới
dạng tranh chấp, bất đồng; các khía cạnh khác nhau giằng kéo kết
luận
về
phía
mình.
Những
vụ
việc
đưa
ra
xét
xử
trước
một
vị
quan tòa minh họa rõ ràng và dứt khoát cho xung đột giữa những
cách giải thích có thể hoán đổi nhau này; nhưng bất kỳ trường
hợp
nào
hướng
tới
việc
dàn
xếp
một
cách
trí
tuệ
một
tình
huống tranh chấp thì đều minh họa cho những đặc điểm đó. Một
đốm mờ hiện ra trước mắt ta; chúng ta tự hỏi: “Cái gì đây? Đám
mây
hay
cột
bụi
lốc?
Một
cái
cây
đang
đu
đưa?
Phải
chăng
một người đang ra hiệu cho ta?”. Mỗi điều trong tình huống tổng
quát gợi đến một khả năng như trên, chỉ có thể một trong số đó là
đáp án đúng; cũng có thể không gợi ý nào trong số đó thích đáng;
song điều khiến ta băn khoăn là cái đó chắc chắn phải mang một
nghĩa nhất định. Điều gì trong những khẳng quyết nêu ra ấy có
nội dung xác đáng? Nhận thức đó thực ra có ý nghĩa gì? Nó phải
được giải thích, ước lượng, đánh giá, nhận ra như thế nào? Mọi
xét đoán đều triển khai ra từ một tình thế như vậy.
Sự xét
2. Việc xét xử một vụ tranh chấp, một phiên tòa, tức là việc
đoán
cân nhắc các yêu sách có thể hoán đổi nhau, được chia thành hai
định
nghĩa
vấn đề,
nhánh, và trong trường hợp nhất định, bất kỳ nhánh nào trong đó
cũng đều có khả năng thu hút sự chú ý hơn so với nhánh kia.
Trong việc phân xử một vụ tranh chấp, hai nhánh này sàng lọc
bằng chứng và lựa ra những quy tắc có thể đem áp dụng; chúng
là “những sự kiện” và “quy luật” của vụ việc. Trong sự xét đoán
thì chúng là (a) sự khẳng định những dữ kiện nào là quan trọng
trong một trường hợp nhất định (so sánh với vận động quy nạp);
và (b)
việc
chi
tiết
hóa
các
khái
niệm
hoặc
ý
nghĩa
gợi
ra
bởi
những dữ kiện thô (so sánh với vận động diễn dịch). (a) Những
phần
nào
hoặc
khía
cạnh
nào
của
tình
huống
đó
quan
trọng
trong việc kiểm soát sự hình thành lời giải thích? (b) Những câu
hỏi này có mối tương quan chặt chẽ với nhau; lời giải đáp cho
câu hỏi này phụ thuộc vào đáp án của câu hỏi kia. Tuy nhiên, để
thuận tiện chúng ta xét riêng từng câu hỏi.
(a)
(a)
Trong
mọi
sự
việc
trên
thực
tế,
rất
nhiều
chi
tiết
thông
qua
việc
lựa
những phần tạo nên sự việc tổng thể, tuy nhiên lại không mấy
quan trọng trong mối liên hệ với điểm gây tranh cãi. Tất cả
những phần làm nên một kinh nghiệm đều thể hiện bình đẳng,
chọn
nhưng chúng còn xa mới đạt tới giá trị ngang bằng với các dấu
sự việc
hiệu hay bằng chứng. Cũng không có đặc điểm nào được gắn thẻ
nào là
bằng
cứ
hay dán nhãn cho biết “cái này là quan trọng” hoặc “cái này
không đáng bận tâm”, và cho đến cả mức độ mạnh yếu, hoặc sự
sống động lẫn sự nổi bật cũng đều không phải là một phương
cách an toàn trong việc chỉ báo và minh chứng cho giá trị. Trong
tình huống cá biệt này, điều gì dễ nhận ra vẫn có thể hoàn toàn
không có giá trị, và chìa khóa để hiểu biết toàn bộ vấn đề có khi
lại giản dị hoặc ẩn khuất (so sánh với tr.125). Những nét không
quan trọng dễ gây mất tập trung; chúng giương cao yêu sách đòi