Quá trình phát triển mạng lưới đo mưa của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam

Đăng ngày 4/2/2019 10:38:34 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 11 | Page: 8 | FileSize: 0.42 M | File type: PDF
Quá trình phát triển mạng lưới đo mưa của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam. Bài viết trình bày về độ dày của mạng lưới trạm khí tượng thủy văn (KTTV) nói chung; mạng lưới trạm/điểm đo mưa nói riêng có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp chuỗi số liệu nhằm nâng cao chất lượng các bản tin dự báo KTTV. Số liệu mưa có biến thiên rất lớn theo không gian và thời gian.
Đ
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI ĐO MƯA
CỦA NGÀNH KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VIỆT NAM
Phạm Văn Dương
Ban Quản lý các dự án khí tượng thủy văn, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia
dày của mạng lưới trạm khí tượng thủy văn (KTTV) nói chung; mạng lưới trạm/điểm đo mưa
nói riêng vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp chuỗi số liệu nhằm nâng cao chất lượng các
bản tin dự báo KTTV. Số liệu mưa biến thiên rất lớn theo không gian thời gian. Trong khi
đó mạng lưới đo mưa nước ta rất còn thưa, khoảng cách trung bình khoảng 16 x 16 km, so với một số nước
trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản (khoảng 5 x 5 km), Hồng Kông (khoảng 1,5 x 1,5km) thì mạng lưới của
chúng ta còn rất thưa.
1. Vị trí địa Việt Nam
xa không truyền được số liệu do chưa có sóng di
Việt Nam có diện tích 331.212 km² và hơn 2.800
hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao
gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, có vùng nội thủy,
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
gần gấp ba lần diện tích đất liền, khoảng trên 1
triệu km² [8].
động. Mặc dù phương thức truyền tin lúc này cũng
chỉ bằng SMS, nhưng nó cũng đã là cuộc cách
mạng trong truyền tin. Để giải quyết được bài toán
này, có dự án đã bắt đầu hướng tới sử dụng phương
thức truyền tin bằng vệ tinh, nhưng công nghệ vệ
tinh của nước ta trong thời kì này chưa phổ biến,
thêm vào đó là chi phí lớn; việc duy trì hệ thống cần
2. Mạng lưới đo mưa
kĩ thuật cao,… [2].
a. Trước năm 2007
c. Giai đoạn 2011-2015
Chủ yếu sử dụng các loại thiết bị đo mưa thủ
Đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất, nhiều dự
công như vũ lượng kế; vũ lượng kí do Liên Xô cũ tài
án lớn được đầu tư phát triển mạng lưới, đến nay
trợ. Một số vũ lượng kế ngày nay vẫn còn được sử
đã phát triển được 728 trạm/điểm đo mưa và có
dụng trong 825 trạm/điểm đo mưa truyền thống,
2.725 trạm/điểm đang trong giai đoạn lập kế hoạch
trong đó có 414 điểm đo mưa nhân dân; 178 trạm
đầu tư, lắp đặt. [3, 4, 5].
khí tượng và 233 trạm thủy văn. Số vũ lượng kí này
gần như không còn sử dụng (để dự phòng) mà
được thay thế bằng vũ lượng kí SL1 và SL3 Trung
- Phát triển mạng lưới truyền tin qua mạng
thông tin di động GSM:
Quốc [1].
+ Truyền bằng tin nhắn SMS: Tại các trạm/điểm
- Số liệu được quan trắc viên đọc và ghi vào sổ
quan trắc, sau đó sử dụng điện thoại để thông báo
về trung tâm nên mất thời gian nhiều, nhiều khi bị
chậm.
đo mưa, việc thu thập số liệu đã tự động đo và được
lưu trữ vào dataloger, đến giờ phát tin đã được cài
đặt trước, phần mềm điều khiển tại datalogger gửi
đi một tin nhắn về trung tâm qua mạng GSM.
Phương thức truyền tin này cũng đã cải thiện, rút
b. Từ năm 2007-2010
ngắn được rất nhiều thời gian so với phương pháp
Là giai đoạn tiền đề cho sự phát triển mạng lưới
đo mưa theo công nghệ mới; công nghệ đo và
truyền tự động. Mặc dù đã định hướng được công
nghệ mới, số liệu đo tự động hoàn toàn, nhưng việc
truyền số liệu chưa thực sự tự động do hệ thống
thủ công. Tuy vậy, công nghệ này vẫn có những hạn
chế như mỗi tin nhắn bị hạn chế tối đa 160 kí tự; tin
nhắn gửi đi có thể bị bị lỗi gây mất số liệu hoặc bị
trễ làm giảm tính thời gian thực của số liệu; giá dịch
vụ cao.
viễn thông còn kém. Ở một số nơi, nhất là vùng sâu,
+ Truyền bằng gói dữ liệu hay là công nghệ
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
Số tháng 08 - 2014
53
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI
GPRS: Là công nghệ mới, hiện đại được phát triển
lưới trạm/điểm đo mưa nói riêng đảm bảo đủ dày,
gần đây ở nước ta. Sử dụng công nghệ này rất
cần phải có phương án duy trì các trạm/điểm đã
thuận tiện do phần mềm điều khiển tại dataloger
đầu tư đều đặn, đúng kĩ thuật để các trạm hoạt
gửi về trung tâm trên giao thức TCP/IP của mạng
động ổn định. Việc bảo dưỡng cần được thực hiện
GSM. Số liệu được mã hóa, gửi đi một cách an toàn
hơn; dung lượng lớn, tốc độ truyền cao; giá rẻ.
định kì và thường xuyên để tăng cường tuổi thọ và
tính chính xác của thiết bị [6, 7].
3. Thực trạng mạng lưới đo mưa định
hướng phát triển đến năm 2020
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch
mạng lưới trạm/điểm đo mưa để đảm bảo mạng
a. Mạng lưới đo mưa hiện tại
lưới đo mưa được quy hoạch khoa học, hợp lí, phù
Mạng lưới đo mưa của Việt Nam đã được đầu tư
hợp với nhu cầu sử dụng. Tiếp tục phát triển mạng
và quan tâm nhiều trong những năm gần đây, đặc
lưới trạm/điểm đo mưa thông qua các dự án đầu tư,
biệt là từ năm 2011. Hiện nay mạng lưới đo mưa của
đặc biệt là trên hải phận. Phấn đấu đến năm 2020
Việt Nam là 16x16 km, tương đương 265 km2 mới
cơ bản mạng lưới trạm/điểm đo mưa được hoàn
có một trạm/điểm. Như vậy, so với một số nước
chỉnh, độ dày đảm bảo như một số nước trong khu
trong khu vực như Hàn Quốc; Nhật Bản, Hồng
vực.
Kông,... thì mạng lưới của chúng ta còn rất thưa
b. Định hướng phát triển đến 2020
Chi tiết Xem Bảng tổng hợp số lượng và mật độ
các trạm đo mưa của Việt Nam, giai đoạn 2007-
Để mạng lưới trạm KTTV nói chung và mạng
2014.
Tài liệu tham khảo
1. Quy phạm Quan trắc khí tượng bề mặt, TCN;
2. Dự án “Phát triển mạng lưới trạm điểm đo mưa, đo mặn phục vụ dự báo KTTV giai đoạn 2010-2012”;
3. Tiểu dự án “Tăng cường năng lực cảnh báo giám sát lụt Đồng bằng sông Cửu Long” thuộc dự án
“Quản rủi ro thiên tai” - WB4;
4. Dự án Hợp phần 2 "Tăng cường dự báo thời tiết hệ thống cảnh báo sớm" thuộc dự án WB5 “Quản thiên
tai”;
5. Dự án “Tăng cường mật độ điểm đo khí tượng, đo mưa tự động phục vụ dự báo thời tiết đảm bảo an
toàn hồ chứa nước”;
6. Quyết định số 929/2010/QĐ-TTg, ngày 2 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2020;
7. Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg, ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch
tổng thể mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên môi trường quốc gia đến năm 2020”;
8. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam
54
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
Số tháng 08 - 2014
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI
2 Diện tích để tính mật độ trung bình của các trạm, điểm đo mưa được sử dụng diện tích trên đất liền
331.212 km²;
3 Bảng tổng hợp số lượng các trạm đo mưa dựa trên số lượng trạm/điểm được đầu qua các dự án. Số
lượng này chưa loại trừ trường hợp trạm/điểm đo mưa được đầu trùng vào các trạm khí tượng thủy văn hiện
có.
4 Năm thiết bị được đầu từ dự án được đưa vào vận hành, khai thác số liệu; không phải năm quyết toán
dự án.
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
Số tháng 08 - 2014
55
PHỤ LỤC: Bảng tổng hợp số lượng mật độ các trạm/điểm đo mưa của Việt Nam, giai đoạn 2007-2016.
TT
Dự án
Mật độ
Khoảng cách
Phương
Phương
Số lượng
Tổng lũy kế
Năm đưa
Ghi chú
km2/trạm1
lưới TB (km)
thức đo
thức truyền
trạm theo
vào sử
tin
năm2
dụng3
1
Thiết bị do Liên xô cũ tài trợ
401
20 x 20
Thủ công
Điện thoại
825
825
2007 trở về
233 TV;
(thủ công)
trước
178 KT;
414 ND
2
Dự án “Phát triển mạng lưới trạm
281
17 x 17
Tự động
SMS và Vệ
353
1.178
2012
điểm đo mưa, đo mặc phục vụ dự
tinh
báo khí tượng thủy văn giai đoạn
2010-2012”
3
Dự án “Tăng cường hệ thống dự
265
16 x 16
Tự động
SMS và UHF
74
1.252
2011
báo và cảnh báo lũ lụt ở Việt Nam -
Giai đoạn I”, ODA-Ý
4
Tiểu dự án “Tăng cường năng lực
cảnh báo và giám sát lũ lụt đồng
245
16 x 16
Tự động
GPRS và Vệ
tinh
101
1.353
2013
12 KTTĐ;
89 NLNĐ
bằng sông Cửu Long” thuộc dự án
“Quản lý rủi ro thiên tai”, WB4
5
Dự án “Đầu tư 18 trạm hải văn
245
16 x 16
Tự động
GPRS
1
1.354
2014
phục vụ dự báo bão, nước dâng và
sóng”
6
Các dự án nhỏ; thử nghiệm khác
242
16 x 16
Tự động
GPRS
13
1.367
2014
7
Dự án “Tăng cường năng lực đối
235
15 x 15
Tự động
GPRS
43
1.410
2015
Đang thực
phó với thiên tai do biến đổi khí
hiện DA
hậu gây ra”, ODA-Nhật
8
Dự án Hợp phần 2 "Tăng cường dự
213
15 x 15
Tự động
GPRS
139
1.549
2015
Đang thực
báo thời tiết và hệ thống cảnh báo
hiện DA
sớm" thuộc dự án WB5 “Quản lý
thiên tai”
9
Dự án “Tăng cường hệ thống dự
199
14 x 14
Tự động
GPRS
117
1.666
2015
Đang xây
báo và cảnh báo lũ lụt ở Việt Nam -
dựng DA
Giai đoạn II”, ODA-Ý
10
Dự án “Hiện đại hóa hệ thống
196
14 x 14
Tự động
GPRS
25
1.691
2015
Đang xây
cảnh báo và dự báo thiên tai tại
dựng DA
Đài Khí tượng Thủy văn khu vực
Đông Bắc”
11
Dự án “Tăng cường mật độ điểm
79
9 x 9
Tự động
GPRS
2.500
4.191
2015
Đang xây
đo khí tượng, đo mưa tự động
dựng DA
phục vụ dự báo thời tiết và đảm
bảo an toàn hồ chứa nước”
12
Dự án “Tăng cường năng lực giám
75
9 x 9
Tự động
GPRS
200
4.391
2015
Đang xây
sát biến đổi khí hậu, dịch vụ thông
dựng DA
tin khí hậu và quan trắc, dự báo
KTTV phục vụ phòng chống thiên
tai, phát triển bền vững ở Việt
Nam”, WB6.
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
11 lần xem

Quá trình phát triển mạng lưới đo mưa của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam. Bài viết trình bày về độ dày của mạng lưới trạm khí tượng thủy văn (KTTV) nói chung; mạng lưới trạm/điểm đo mưa nói riêng có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp chuỗi số liệu nhằm nâng cao chất lượng các bản tin dự báo KTTV. Số liệu mưa có biến thiên rất lớn theo không gian và thời gian..

Nội dung

NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI ĐO MƯA CỦA NGÀNH KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VIỆT NAM Phạm Văn Dương Ban Quản lý các dự án khí tượng thủy văn, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia ộ dày của mạng lưới trạm khí tượng thủy văn (KTTV) nói chung; mạng lưới trạm/điểm đo mưa nói riêng có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp chuỗi số liệu nhằm nâng cao chất lượng các bản tin dự báo KTTV. Số liệu mưa có biến thiên rất lớn theo không gian và thời gian. Trong khi đó mạng lưới đo mưa ở nước ta rất còn thưa, khoảng cách trung bình khoảng 16 x 16 km, so với một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản (khoảng 5 x 5 km), Hồng Kông (khoảng 1,5 x 1,5km) thì mạng lưới của chúng ta còn rất thưa. 1. Vị trí địa lí Việt Nam Việt Nam có diện tích 331.212 km² và hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa gần gấp ba lần diện tích đất liền, khoảng trên 1 triệu km² [8]. 2. Mạng lưới đo mưa a. Trước năm 2007 Chủ yếu sử dụng các loại thiết bị đo mưa thủ công như vũ lượng kế; vũ lượng kí do Liên Xô cũ tài trợ. Một số vũ lượng kế ngày nay vẫn còn được sử dụng trong 825 trạm/điểm đo mưa truyền thống, trong đó có 414 điểm đo mưa nhân dân; 178 trạm khí tượng và 233 trạm thủy văn. Số vũ lượng kí này gần như không còn sử dụng (để dự phòng) mà được thay thế bằng vũ lượng kí SL1 và SL3 Trung Quốc [1]. - Số liệu được quan trắc viên đọc và ghi vào sổ quan trắc, sau đó sử dụng điện thoại để thông báo về trung tâm nên mất thời gian nhiều, nhiều khi bị chậm. b. Từ năm 2007-2010 Là giai đoạn tiền đề cho sự phát triển mạng lưới đo mưa theo công nghệ mới; công nghệ đo và truyền tự động. Mặc dù đã định hướng được công nghệ mới, số liệu đo tự động hoàn toàn, nhưng việc truyền số liệu chưa thực sự tự động do hệ thống viễn thông còn kém. Ở một số nơi, nhất là vùng sâu, xa không truyền được số liệu do chưa có sóng di động. Mặc dù phương thức truyền tin lúc này cũng chỉ bằng SMS, nhưng nó cũng đã là cuộc cách mạng trong truyền tin. Để giải quyết được bài toán này, có dự án đã bắt đầu hướng tới sử dụng phương thức truyền tin bằng vệ tinh, nhưng công nghệ vệ tinh của nước ta trong thời kì này chưa phổ biến, thêm vào đó là chi phí lớn; việc duy trì hệ thống cần kĩ thuật cao,… [2]. c. Giai đoạn 2011-2015 Đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất, nhiều dự án lớn được đầu tư phát triển mạng lưới, đến nay đã phát triển được 728 trạm/điểm đo mưa và có 2.725 trạm/điểm đang trong giai đoạn lập kế hoạch đầu tư, lắp đặt. [3, 4, 5]. - Phát triển mạng lưới truyền tin qua mạng thông tin di động GSM: + Truyền bằng tin nhắn SMS: Tại các trạm/điểm đo mưa, việc thu thập số liệu đã tự động đo và được lưu trữ vào dataloger, đến giờ phát tin đã được cài đặt trước, phần mềm điều khiển tại datalogger gửi đi một tin nhắn về trung tâm qua mạng GSM. Phương thức truyền tin này cũng đã cải thiện, rút ngắn được rất nhiều thời gian so với phương pháp thủ công. Tuy vậy, công nghệ này vẫn có những hạn chế như mỗi tin nhắn bị hạn chế tối đa 160 kí tự; tin nhắn gửi đi có thể bị bị lỗi gây mất số liệu hoặc bị trễ làm giảm tính thời gian thực của số liệu; giá dịch vụ cao. + Truyền bằng gói dữ liệu hay là công nghệ TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Số tháng 08 - 2014 53 NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI GPRS: Là công nghệ mới, hiện đại được phát triển gần đây ở nước ta. Sử dụng công nghệ này rất thuận tiện do phần mềm điều khiển tại dataloger gửi về trung tâm trên giao thức TCP/IP của mạng GSM. Số liệu được mã hóa, gửi đi một cách an toàn hơn; dung lượng lớn, tốc độ truyền cao; giá rẻ. 3. Thực trạng mạng lưới đo mưa và định hướng phát triển đến năm 2020 a. Mạng lưới đo mưa hiện tại Mạng lưới đo mưa của Việt Nam đã được đầu tư và quan tâm nhiều trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2011. Hiện nay mạng lưới đo mưa của Việt Nam là 16x16 km, tương đương 265 km2 mới có một trạm/điểm. Như vậy, so với một số nước trong khu vực như Hàn Quốc; Nhật Bản, Hồng Kông,... thì mạng lưới của chúng ta còn rất thưa b. Định hướng phát triển đến 2020 Để mạng lưới trạm KTTV nói chung và mạng lưới trạm/điểm đo mưa nói riêng đảm bảo đủ dày, cần phải có phương án duy trì các trạm/điểm đã đầu tư đều đặn, đúng kĩ thuật để các trạm hoạt động ổn định. Việc bảo dưỡng cần được thực hiện định kì và thường xuyên để tăng cường tuổi thọ và tính chính xác của thiết bị [6, 7]. - Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trạm/điểm đo mưa để đảm bảo mạng lưới đo mưa được quy hoạch khoa học, hợp lí, phù hợp với nhu cầu sử dụng. Tiếp tục phát triển mạng lưới trạm/điểm đo mưa thông qua các dự án đầu tư, đặc biệt là trên hải phận. Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản mạng lưới trạm/điểm đo mưa được hoàn chỉnh, độ dày đảm bảo như một số nước trong khu vực. Chi tiết Xem Bảng tổng hợp số lượng và mật độ các trạm đo mưa của Việt Nam, giai đoạn 2007- 2014. Tài liệu tham khảo 1. Quy phạm Quan trắc khí tượng bề mặt, TCN; 2. Dự án “Phát triển mạng lưới trạm điểm đo mưa, đo mặn phục vụ dự báo KTTV giai đoạn 2010-2012”; 3. Tiểu dự án “Tăng cường năng lực cảnh báo và giám sát lũ lụt Đồng bằng sông Cửu Long” thuộc dự án “Quản lí rủi ro thiên tai” - WB4; 4. Dự án Hợp phần 2 "Tăng cường dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm" thuộc dự án WB5 “Quản lí thiên tai”; 5. Dự án “Tăng cường mật độ điểm đo khí tượng, đo mưa tự động phục vụ dự báo thời tiết và đảm bảo an toàn hồ chứa nước”; 6. Quyết định số 929/2010/QĐ-TTg, ngày 2 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2020; 7. Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg, ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020”; 8. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam 54 TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Số tháng 08 - 2014 NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI 2 Diện tích để tính mật độ trung bình của các trạm, điểm đo mưa được sử dụng là diện tích trên đất liền 331.212 km²; 3 Bảng tổng hợp số lượng các trạm đo mưa dựa trên số lượng trạm/điểm được đầu tư qua các dự án. Số lượng này chưa loại trừ trường hợp trạm/điểm đo mưa được đầu tư trùng vào các trạm khí tượng thủy văn hiện có. 4 Năm thiết bị được đầu tư từ dự án được đưa vào vận hành, khai thác số liệu; không phải năm quyết toán dự án. TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Số tháng 08 - 2014 55 NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI GIỚI THIỆU PHẦN MỀM HỖ TRỢ RA BẢN TIN CẢNH BÁO, DỰ BÁO LŨVÀ CẢNH BÁO NGẬP LỤT CHO SÔNG THẠCH HÃN TỈNH QUẢNG TRỊ ThS. Vũ Đức Long, TS. Đặng Thanh Mai, ThS. Phùng Tiến Dũngvà các cộng tác viên Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương ài báo giới thiệu phần mềm hỗ trợ ra tin cảnh báo, dự báo lũ và cảnh báo ngập lụt cho hệ thống sông Thạch Hãn. Phần mềm được xây dựng dựa trên sự kết hợp các mô hình thủy văn, thủy lực của họ mô hình Mike, mô hình điều tiết hồ chứa với số liệu đầu vào từ 2 nguồn số liệu đo đạc truyền thống, số liệu từ các trạm đo tự động và các sản phẩm mưa dự báo từ các mô hình số trị, các hình thế thời tiết tương tự, mưa dự báo synop. Phần mềm được xây dựng nhằm hỗ trợ các dự báo viên thủy văn trong tác nghiệp dự báo lũ. 1. Mở đầu Như chúng ta đã biết các mô hình thủy văn, thủy lực được xây dựng ở các nước tiên tiến trên thế giới có rất nhiều ưu điểm như cơ sở lý thuyết chặt chẽ, tốc độ tính toán nhanh, giao diện thân thiện... Trong các mô hình đó có bộ mô hình Mike của Đan Mạch đã và đang được ứng dụng rộng dãi tại nhiều nước trên thế giới và được công nhận là bộ mô hình mạnh tính toán có độ chính xác cao. Ở Việt Nam bộ mô hình này đã và đang được ứng dụng để dự báo, ô nhiễm, ngập lụt... Tuy nhiên, khi ứng dụng mô hình này tại Việt Nam đã xảy ra nhiều bất cập như: Các mô hình sử dụng ngôn ngữ giao tiếp phổ biến bằng tiếng Anh, gây khó khăn cho các cán bộ không biết tiếng Anh; mỗi họ mô hình của mỗi nước phát triển đều có một hệ thống lưu trữ cơ sở dữ liệu khác nhau, định dạng khác nhau. Ví dụ như họ mô hình MIKE sử dụng dạng tệp đầu vào có định dạng *.dfs0, đầu ra *.ress11; họ mô hình HEC (Mỹ) sử dụng dạng tệp có định dạng *.dss... Trong khi đó ở Việt Nam chủ yếu sử dụng hệ lưu trữ số liệu SQL, Access, Excell... Vì vậy, việc kết nối cơ sở dữ liệu, cũng như nhập liệu để tính toán thường mất nhiều thời gian, trong khi công tác dự báo phục cần phải nhanh chóng, thuận tiện, tối ưu nhất có thể về thời gian. Chính vì những lý do trên, ngoài việc nghiên cứu ứng dụng bộ mô hình Mike cho lưu vực sông Thạch Hãn, xây dựng mô đun tính toán điều tiết hồ cho hồ Rào Quán, nghiên cứu đã phát triển một hệ thống đồng bộ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu hiện có của ngành khí tượng thủy văn (KTTV) và cơ sở dữ liệu của họ mô hình Mike, cập nhật số liệu mưa dự báo từ các mô hình dự báo mưa số trị, các hình thế thời tiết tương tự, mưa dự báo synop tạo nên một phần mềm hỗ trợ công tác phân tích ra bản tin cảnh báo, dự báo lũ và cảnh báo ngập lụt cho sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị hiệu quả, thiết thực. 2. Giới thiệu khu vực nghiên cứu và kết quả ứng dụng mô hình MIKE a. Giới thiệu khu vực nghiên cứu Hệ thống sông Thạch Hãn là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị với diện tích lưu vực tương ứng là 2.660 km2. Phần lớn các khu dân cư, kinh tế tập trung, các khu hành chính của tỉnh đều nằm ở vùng hạ lưu sông và thường xuyên chịu uy hiếp của lũ lụt. Để ứng phó với tình trạng mưa, lũ ở khu vực này Trung tâm KTTV quốc gia đã thiết lập một mạng lưới quan trắc KTTV trên hệ thống sông Thạch Hãn với tổng số là 12 trạm, trong đó có 2 trạm khí tượng, 9 trạm thủy văn, 1 trạm đo mưa (hình 1). Hình 1. Bản đồ vùng nghiên cứu 56 TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Người đọc phản biện: ThS. Võ Văn Hòa Số tháng 08 - 2014 NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI b. Kết quả ứng dụng mô hình MIKE cho lưu vực sông Thạch Hãn Với mục tiêu là kết nối các mô hình, tạo nên một phần mềm hoàn thiện, đơn giản, dễ sử dụng, nhanh chóng phục vụ hữu ích trong công tác dự Hình 2. Phạm vi các vùng áp dụng mô hình tính toán lũ, ngập lụt, các biên và điểm dự báo 1) Ứng dụng mô hình NAM tính toán dòng chảy từ mưa. Để đáp ứng yêu cầu đầu vào của mô hình Nam, dựa vào điều kiện địa lý tự nhiên, mạng lưới sông ngòi, mạng lưới trạm quan trắc KTTV trên lưu vực, tài liệu điều tra, khảo sát thu thập được. Lưu vực sông Thạch Hãn được chia thành 11 tiểu lưu vực. Nghiên cứu đã sử dụng số liệu 12 trận lũ lớn trong quá khứ từ năm 2003 - 2011 để hiệu chỉnh, kiểm nghiệm mô hình tại trạm Đakrông và Đầu Mầu. Kết quả hiệu chỉnh mô hình cho 2 vị trí Đăkrông và Đầu Mầu là tương đối tốt. Đối với quá trình lũ, chỉ tiêu chất lượng S/ V đạt trung bình 0,24, đỉnh lũ tính toán thường có xu hướng nhỏ hơn đỉnh lũ thực đo, sai số lưu lượng đỉnh lũ trung bình là 5,39%, thời gian xuất hiện đỉnh lũ giữa quá trình tính toán và thực đo chênh lệnh từ 40’ – 2h. Nhìn chung, với những trận lũ đơn, kết quả mô phỏng luôn tốt hơn những trận lũ kép nhiều đỉnh. Với bộ thông số tìm được, kiểm định lại cho các trận lũ tại 2 vị trí Đăkrông và Đầu Mầu kết quả kiểm định cho thấy các thông số tìm được của mô hình khá ổn định đối với từng lưu vực, các chỉ tiêu chất lượng đều đạt giới hạn cho phép. 2) Ứng dụng mô hình Mike Flood tính toán dòng chảy lũ, ngập lụt Dựa vào bản đồ hệ thống sông suối, hệ thống sông Thạch Hãn được số hóa thành 8 đoạn sông và 108 mặt cắt, trong đó: Sông Cam Lộ: 8 mặt cắt; sông báo tác nghiệp, bài báo đã tiến hành phân chia các vùng ứng dụng mô hình tính, đảm bảo việc ứng dụng các mô hình một cách phù hợp cho kết quả dự báo là tốt nhất có thể. Cụ thể như hình 2, 3. Hình 3. Sơ đồ mô tả liên kết các mô hình Cánh Hòm: 14; sông Ô Giang: 7; sông Ô Lâu: 19; sông Thác Ma: 3; sông Thạch Hãn: 29; Tràn An Tiêm: 5; sông Vĩnh Định: 23 mặt cắt. Với các biên đầu trên là lưu lượng tại các trạm Đarkrông, Đầu Mầu, Mỹ Chánh và biên dưới là mực nước triều tại trạm Cửa Việt. Hình 4. Sơ đồ mạng thủy lực 1 chiều Để xác định miền tính 2 chiều cho vùng hạ lưu sông Thạch Hãn nghiên cứu đã dựa trên bản đồ địa hình 1/25.000, bản đồ ngập lụt năm 1999 do UNDP xây dựng năm 2004 với vùng đệm rộng 1km. Diện tích vùng tính ngập lụt được xác định là 950km2, lưới tính toán là lưới tam giác, dạng phi cấu trúc (FEM) với mỗi cạnh ô lưới trên khu vực ngập dao động từ 150 - 200 m, tại các vị trí có công trình như đường, cầu, lòng sông... mỗi cạnh của ô lưới được chia nhỏ nhơn, xác định dao động từ 10- 40 m (hình 5, 6) TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Số tháng 08 - 2014 57 NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI Hình 5. Bản đồ độ cao số vùng tính 2 chiều Hình 6. Bản đồ lưới phần tử Việc kết nối giữa mô hình 1 – 2 chiều trong mô hình MIKE FLOOD nhằm tạo ra sự trao đổi nước trong sông và trên bãi ngập lũ thông qua các liên kết giữa mô hình MIKE 11 và mô hình MIKE 21. Khi mực nước trong sông lên cao vượt quá cao trình bờ sông thì dòng chảy tính toán từ mô hình MIKE 11 đóng vai trò là nguồn cung cấp nước cho mô hình MIKE 21 tại ô lưới liên kết. Ngược lại, khi mực nước trong sông thấp hơn mực nước trên bãi ngập lũ thì dòng chảy tính toán từ mô hình MIKE 21 trở thành nguồn cấp nước cho mô hình MIKE 11. Cụ thể, trong mạng thủy lực 1 chiều đã xây dựng ở trên thì việc kết với mô hình 2 chiều chủ yếu là kết nối bên. Các trận lũ dùng hiệu chỉnh, kiểm nghiệm, trận lũ từ 13-27/10/2003; từ 23/11-06/12/2004; từ 12/9- 18/9/2005; từ 15-24/9/2005; từ 29/9-06/10/2006; từ hình dạng, cũng như thời gian xuất hiện đỉnh lũ. Sai số đỉnh lũ tại trạm Thạch Hãn tương đối nhỏ từ 0 -0,3 m. Chỉ số NASH trong mô phỏng trong các trận lũ cao, đều đạt trên 80%. Các trận lũ năm 2005, 2006, 1999 được sử dụng để kiểm nghiệm kết quả tính của mô hình. Kết quả kiểm định các trận lũ cho thấy đỉnh lũ tính toán và đỉnh lũ thực đo chênh lệch từ 0 -2 giờ. Chênh lệch giá trị đỉnh lũ từ 0,02 - 0,2 m, quá trình lũ đồng dạng chỉ số kiểm định NASH cao, đạt từ 81-85%. Đối chiếu với các chỉ tiêu tính toán thì kết quả mô phỏng quá trình lũ đều ở mức đạt. 13-24/10/2007; từ 13-27/10/2003; từ 23/11- 06/12/2004; từ 12/9-18/9/2005; từ 15-24/9/2005; từ 29/9-06/10/2006; từ 13/10-24/10/2007, trận lũ lịch sử năm 1999. Kết quả hiệu chỉnh cho thấy đường quá trình mực nước giữa tính toán và thực đo phù hợp về Hình 8. Đường tính toán và thực đo năm 29/9- 06/10/2006 tại Thạch Hãn Hình 7. Sơ đồ kết nối thủy lực 1 với 2 chiều Hình 9. Đường tính toán và thực đo năm 30/10- 10/11/1999 tại Thạch Hãn 58

Tài liệu liên quan