Nghiên cứu sự biến động về bùn cát trên các tuyến sông chính đổ vào vùng biển Đồ Sơn - Hải Phòng

Đăng ngày 4/2/2019 10:38:47 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 4 | Page: 11 | FileSize: 0.31 M | File type: PDF
Nghiên cứu sự biến động về bùn cát trên các tuyến sông chính đổ vào vùng biển Đồ Sơn - Hải Phòng. Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu về sự biến động này trên cơ sở tính toán, mô phỏng bằng mô hình toán thủy lực hình thái một chiều MIKE 11HD và ST. Cùng với sự phát triển KTXH, sự thay đổi về các yếu tố mặt đệm, khai thác nguồn nước, khai thác cát trên lưu vực, đã làm thay đổi lượng dòng chảy, bùn cát chuyển ra vùng biển Đồ Sơn.
KHOA HC
CÔNG NGH
NGHIÊN CU S BIN ĐỘNG V BÙN CÁT TRÊN CÁC TUYN
SÔNG CHÍNH ĐỔ VÀO VÙNG BIN ĐỒ SƠN - HI PHÒNG
ThS. H Vit Cường
ThS. Nguyn Th Ngc Nhn
Phòng TNTĐ Quc gia v Động lc hc Sông bin
Tóm tt: Vùng bin Đồ Sơn Hi Phòng nơi tiếp nhn dòng chy, bùn cát ca 5 ca sông
ln thuc h thng sông Hng Thái Bình gm: ca Thái Bình, ca Văn Úc, ca Lch Tray,
ca Cm ca Đá Bch. Cùng vi s phát trin KTXH, s thay đổi v các yếu t mt đệm, khai
thác ngun nước, khai thác cát trên lưu vc, đã làm thay đổi lượng dòng chy, bùn cát chuyn ra
vùng bin Đồ Sơn. Bài báo trình bày mt s kết qu nghiên cu v s biến động này trên cơ s
tính toán, phng bng hình toán thy lc hình thái mt chiu MIKE 11HD ST.
T khóa: Bùn cát, hình toán, Mike11, Đồ sơn Hi phòng.
Summary: It is said that Do Son coastal area, Hai Phong province, is receiving sediment
of 5 major river flows which belong to the Red River system as follows: Thai Binh, Van Uc,
Lach Tray, Cam and Da Bac river mouths. Caused by the socio-economic development, the
surface
elements
variation,
water
resources
exploitation,
sand
mining
in
the basin
that
make sedimentation in Do Son beach has been changed. This paper presents some results
of
this
volatility
based
on
mathematical models
MIKE 11HD
and
ST
calculations
and
simulations.
Keyword: Sediment, Mathematical models, Mike11, Do son Hai phong.
I. ĐẶT VN ĐỀ *
Quang và vic thay đổi các điu kin mt đệm,
Lưu vc sông Hng - Thái Bình tri dài tvĩ
độ 20o00’ ti 25o30’ và tkinh độ 100o00’
đến 107o10’ Đông được ni bi hai h
thm phthc vt trên lưu vc,… cùng vi
các hot động khai thác cát, khai thác ngun
nước trên các tuyến sông vùng hdu đã làm
thay đổi lượng dòng chy, bùn cát chuyn ra
thng
sông
Hng
sông
Thái
Bình
vi
vùng ca sông, ven bin.
nhau qua sông Đung và sông Luc. H
thng sông Hng - sông Thái Bình đổ ra
bin qua 09 ca sông: Đá Bch, Ca Cm,
Lch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý, Ba
Lt, Ninh Cơ và Ca Đáy. Tri qua các thi
kphát trin kinh tế xã hi, đến nay đã có mt
slượng ln các công trình thy li, thy đin
được xây dng trên lưu vc, đặc bit là vic
xây dng các hcha ln thượng ngun như
Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên
Vùng bin Đồ Sơn – Hi Phòng là nơi tiếp
nhn dòng chy, bùn cát ca 5 ca sông ln
gm: ca Thái Bình, ca Văn Úc, ca Lch
Tray, ca Cm và ca Đá Bch. Vi sbiến
động vdòng chy và bùn cát trên hthng
sông Hng – Thái Bình thì lượng dòng chy và
bùn cát chuyn ra vùng bin này cũng thay đổi
theo. Bài báo trình bày mt skết qutính
toán, phân tích sbiến động vlượng dòng
chy và bùn cát trên các hthng sông chính
Người phn bin: PGS.TS Phm Đình
Ngày nhn bài: 10/2/2015
chuyn ra vùng bin Đồ Sơn – Hi Phòng theo
không gian, thi gian.
Ngày thông qua phn bin: 03/4/2015
Ngày duyt đăng: 24/4/2015
II.
TÀI
LIU
PHƯƠNG
PHÁP
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015
1
KHOA HC
CÔNG NGH
NGHIÊN CU
1960 – 1970;
Để phân tích đánh giá sbiến đổi lượng bùn
- Giai đon có hcha Thác Bà và Hòa Bình:
cát tcác sông trong hthng sông Hng –
t1989-2006;
Thái Bình đổ ra vùng bin Đồ Sơn, Hi Phòng
qua các ca sông chính Thái Bình, Văn Úc,
Lch Tray, ca Cm và ca Đá Bch các tài
liu đã được thu thp để đánh giá bao gm:
- Tài liu vlưu lượng, mc nước và hàm
lượng bùn cát ca các sông chính trên lưu vc
sông Hng – Thái Bình do Trung tâm Khí
tượng Thy văn đo đạc t1959-2014.
- Giai đon có hcha Thác Bà, Hòa Bình,
Tuyên Quang và Sơn La: 2007 – 2014.
Trên cơ sphân tích các tài liu thc đo vlưu
lượng dòng chy và bùn cát ti các trm đin
hình là Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Ni, Thượng
Cát tnăm 1960 – 2014 để đánh giá các biến
động vlượng dòng chy và bùn cát do tác
động ca các hcha thượng ngun đến hdu
- Các tài liu về địa hình ca toàn bcác sông
sông Hng – Thái Bình.
trên lưu vc sông Hng – Thái Bình tnăm
Kết quphân tích
cho thy
nh
các h
1999 cho đến 2014.
cha
thượng
ngun
điu
tiết,
lượng
nước
Phương pháp chyếu để thc hin:
- Phương pháp phân tích thng kê: phân tích
da trên sliu thc đo vlưu lượng dòng
chy và bùn cát gia các thi ktrước và sau
khi có các hcha ln thượng ngun.
thi kmùa kit hdu được tăng lên, ti
Sơn Tây các tháng thi kkit nht (tháng
II - IV) tăng t120 - 500 m3/s, Hà Ni
tăng t2-400m3/s, Thượng Cát tăng 170 -
500 m3/s. Tlphân nước qua sông Đung
vào mùa kit tăng lên, giai đon dòng
- Phương pháp mô hình hóa: thiết lp mô hình
chy
t
nhiên
t
1960
-
1970
t
l
dòng
hình thái 1 chiu MIKE 11HD và ST ca vin
chy
các tháng mùa kit sang sông Đung
thy lc Đan Mch DHI cho toàn bcác sông
chiếm khong 18,7% so
vi Sơn Tây,
giai
trên hthng sông Hng – Thái Bình để
đon có hai h
cha Hòa Bình và Thác Bà
phng quá trình thy động lc và vn chuyn
(1989-2006)
t
l
này
tăng
lên
28,6%
bùn cát trên hthng.
giai đon có 4 hcha Hòa Bình, Thác Bà,
III. KT QU NGHIÊN CU
3.1. Biến động lượng dòng chy bùn cát
trong h thng sông Hng Thái Bình
Tuyên Quang, Sơn La tldòng chy phân
sang sông Đung vào mùa kit tăng lên lên
đến 46,5% lượng dòng chy sông Hng ti
Sơn Tây. Như vy nhcó tác dng điu tiết
Trên hthng sông Hng – Thái Bình tnăm
ca các hcha ln thượng ngun thì lượng
1971 đã bt đầu xây dng và đưa vào vn hành
nước cung cp cho sông Thái Bình vào mùa
các hcha ln thượng ngun, cho đến nay
kit đã tăng lên
rt nhiu.
Stăng lên
ca
trên thượng ngun đã có các hcha ln là Thác
ti
lượng
nước
vào
mùa
khô
ti
trm
(1972),
Hòa
Bình
(1989),
Tuyên
Quang
Thượng
Cát
trên
sông Đung
th
nh
(2007), Sơn La (2012). Vì vy để đánh giá biến
hưởng đến
s
phân
phi nước và bùn cát
động lượng dòng chy, bùn cát hdu sông Hng
cho các sông thuc hthng sông Thái Bình
– Thái Bình
do nh hưởng ca các h
cha
(sông
Bch
Đằng,
sông
Cm,
sông
Lch
thượng ngun, báo cáo chia ra các thi đon sau:
Tray, sông Văn Úc).
- Giai đon dòng chy
chế độ tnhiên: t
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015
KHOA HC
CÔNG NGH
Bng 1. T l lưu lượng dòng chy các tháng mùa kit ti Thượng Cát
so vi Sơn Tây qua các thi k
Giai đon
Tng Qkit (XI-V) (m3/s)
QSơn Tây QThượng Cát
T l %
(QTC/QST*100%)
1960 - 1970
10678.9
2000.8
18,7
1989 - 2006
11391.5
3255.2
28,6
2007 - 2014
12442.7
5784.1
46,5
Hình 1. Phân phi lưu lượng dòng chy các tháng trong năm trm
Hòa Bình, Sơn Tây, Ni Thượng Cát các thi k.
Vic xây dng các hcha thượng ngun
dòng chy tnhiên. Ssuy gim hàm lượng
đã
gi
li
phn
ln
lượng
bùn
cát
trên
vt liu phù sa ca sông Đà đã kéo theo s
thượng lưu h, làm cho lượng bùn
cát ca
suy gim hàm lượng bùn
cát hdu sông
các sông thay đổi đáng k. Trước hết là s
suy gim hàm lượng bùn cát lơ lng trung
bình (Hình 2). Ti trm Hòa Bình trên sông
Đà, độ đục trung bình đã gim ttrung bình
năm đã gim t571,4g/m3 xung còn
71,1g/m3 giai đon 1989-2006 (gim
khong 87,6%) và 32,2g/m3 giai đon 2007-
2014 tương đương 99,6% so vi giai đon
Hng: ti trm Sơn Tây, độ đục trung bình
năm gim t581,4g/m3 thi k1960-1970
xung 317,68g/m3 thi k1989-2006 và
146,7g/m3 thi k2007-2014. Ti trm Hà
Ni gim t485g/m3 xung còn 424,3g/m3
và 161,2g/m3. Ti trm Thượng Cát gim t
619,9g/m3 xung 471,5g/m3 và chcòn
231,9g/m3.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015
3
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
4 lần xem

Nghiên cứu sự biến động về bùn cát trên các tuyến sông chính đổ vào vùng biển Đồ Sơn - Hải Phòng. Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu về sự biến động này trên cơ sở tính toán, mô phỏng bằng mô hình toán thủy lực hình thái một chiều MIKE 11HD và ST. Cùng với sự phát triển KTXH, sự thay đổi về các yếu tố mặt đệm, khai thác nguồn nước, khai thác cát trên lưu vực, đã làm thay đổi lượng dòng chảy, bùn cát chuyển ra vùng biển Đồ Sơn..

Nội dung

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ BÙN CÁT TRÊN CÁC TUYẾN SÔNG CHÍNH ĐỔ VÀO VÙNG BIỂN ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG ThS. Hồ Việt Cường ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhẫn Phòng TNTĐ Quốc gia về Động lực học Sông biển Tóm tắt: Vùng biển Đồ Sơn – Hải Phòng là nơi tiếp nhận dòng chảy, bùn cát của 5 cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng – Thái Bình gồm: cửa Thái Bình, cửa Văn Úc, cửa Lạch Tray, cửa Cấm và cửa Đá Bạch. Cùng với sự phát triển KTXH, sự thay đổi về các yếu tố mặt đệm, khai thác nguồn nước, khai thác cát trên lưu vực, đã làm thay đổi lượng dòng chảy, bùn cát chuyển ra vùng biển Đồ Sơn. Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu về sự biến động này trên cơ sở tính toán, mô phỏng bằng mô hình toán thủy lực hình thái một chiều MIKE 11HD và ST. Từ khóa: Bùn cát, Mô hình toán, Mike11, Đồ sơn – Hải phòng. Summary: It is said that Do Son coastal area, Hai Phong province, is receiving sediment of 5 major river flows which belong to the Red River system as follows: Thai Binh, Van Uc, Lach Tray, Cam and Da Bac river mouths. Caused by the socio-economic development, the surface elements variation, water resources exploitation, sand mining in the basin that make sedimentation in Do Son beach has been changed. This paper presents some results of this volatility based on mathematical models MIKE 11HD and ST calculations and simulations. Keyword: Sediment, Mathematical models, Mike11, Do son – Hai phong. I. ĐẶT VẤN ĐỀ * Lưu vực sông Hồng - Thái Bình trải dài từ vĩ độ 20o00’ tới 25o30’ và từ kinh độ 100o00’ đến 107o10’ Đông được nối bởi hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình với nhau qua sông Đuống và sông Luộc. Hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình đổ ra biển qua 09 cửa sông: Đá Bạch, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý, Ba Lạt, Ninh Cơ và Cửa Đáy. Trải qua các thời kỳ phát triển kinh tế xã hội, đến nay đã có một số lượng lớn các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng trên lưu vực, đặc biệt là việc xây dựng các hồ chứa lớn ở thượng nguồn như Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Người phản biện: PGS.TS Phạm Đình Ngày nhận bài: 10/2/2015 Ngày thông qua phản biện: 03/4/2015 Ngày duyệt đăng: 24/4/2015 Quang và việc thay đổi các điều kiện mặt đệm, thảm phủ thực vật trên lưu vực,… cùng với các hoạt động khai thác cát, khai thác nguồn nước trên các tuyến sông ở vùng hạ du đã làm thay đổi lượng dòng chảy, bùn cát chuyển ra vùng cửa sông, ven biển. Vùng biển Đồ Sơn – Hải Phòng là nơi tiếp nhận dòng chảy, bùn cát của 5 cửa sông lớn gồm: cửa Thái Bình, cửa Văn Úc, cửa Lạch Tray, cửa Cấm và cửa Đá Bạch. Với sự biến động về dòng chảy và bùn cát trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình thì lượng dòng chảy và bùn cát chuyển ra vùng biển này cũng thay đổi theo. Bài báo trình bày một số kết quả tính toán, phân tích sự biến động về lượng dòng chảy và bùn cát trên các hệ thống sông chính chuyển ra vùng biển Đồ Sơn – Hải Phòng theo không gian, thời gian. II. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015 1 KHOA HỌC NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ 1960 – 1970; Để phân tích đánh giá sự biến đổi lượng bùn cát từ các sông trong hệ thống sông Hồng – Thái Bình đổ ra vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng qua các cửa sông chính Thái Bình, Văn Úc, Lạch Tray, cửa Cấm và cửa Đá Bạch các tài liệu đã được thu thập để đánh giá bao gồm: - Tài liệu về lưu lượng, mực nước và hàm lượng bùn cát của các sông chính trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình do Trung tâm Khí tượng Thủy văn đo đạc từ 1959-2014. - Các tài liệu về địa hình của toàn bộ các sông trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình từ năm 1999 cho đến 2014. Phương pháp chủ yếu để thực hiện: - Phương pháp phân tích thống kê: phân tích dựa trên số liệu thực đo về lưu lượng dòng chảy và bùn cát giữa các thời kỳ trước và sau khi có các hồ chứa lớn ở thượng nguồn. - Phương pháp mô hình hóa: thiết lập mô hình hình thái 1 chiều MIKE 11HD và ST của viện thủy lực Đan Mạch DHI cho toàn bộ các sông trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình để mô - Giai đoạn có hồ chứa Thác Bà và Hòa Bình: từ 1989-2006; - Giai đoạn có hồ chứa Thác Bà, Hòa Bình, Tuyên Quang và Sơn La: 2007 – 2014. Trên cơ sở phân tích các tài liệu thực đo về lưu lượng dòng chảy và bùn cát tại các trạm điển hình là Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Nội, Thượng Cát từ năm 1960 – 2014 để đánh giá các biến động về lượng dòng chảy và bùn cát do tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến hạ du sông Hồng – Thái Bình. Kết quả phân tích cho thấy nhờ có các hồ chứa thượng nguồn điều tiết, lượng nước thời kỳ mùa kiệt hạ du được tăng lên, tại Sơn Tây các tháng thời kỳ kiệt nhất (tháng II - IV) tăng từ 120 - 500 m3/s, ở Hà Nội tăng từ 2-400m3/s, ở Thượng Cát tăng 170 -500 m3/s. Tỷ lệ phân nước qua sông Đuống vào mùa kiệt tăng lên, ở giai đoạn dòng chảy tự nhiên từ 1960 - 1970 tỷ lệ dòng chảy các tháng mùa kiệt sang sông Đuống chiếm khoảng 18,7% so với Sơn Tây, giai đoạn có hai hồ chứa Hòa Bình và Thác Bà phỏng quá trình thủy động lực và vận chuyển (1989-2006) tỷ lệ này tăng lên 28,6% và bùn cát trên hệ thống. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Biến động lượng dòng chảy và bùn cát trong hệ thống sông Hồng – Thái Bình Trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình từ năm 1971 đã bắt đầu xây dựng và đưa vào vận hành các hồ chứa lớn ở thượng nguồn, cho đến nay giai đoạn có 4 hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Sơn La tỷ lệ dòng chảy phân sang sông Đuống vào mùa kiệt tăng lên lên đến 46,5% lượng dòng chảy sông Hồng tại Sơn Tây. Như vậy nhờ có tác dụng điều tiết của các hồ chứa lớn thượng nguồn thì lượng nước cung cấp cho sông Thái Bình vào mùa kiệt đã tăng lên rất nhiều. Sự tăng lên của trên thượng nguồn đã có các hồ chứa lớn là Thác tải lượng nước vào mùa khô tại trạm Bà (1972), Hòa Bình (1989), Tuyên Quang Thượng Cát trên sông Đuống có thể ảnh (2007), Sơn La (2012). Vì vậy để đánh giá biến động lượng dòng chảy, bùn cát hạ du sông Hồng hưởng đến sự phân phối nước và bùn cát cho các sông thuộc hệ thống sông Thái Bình – Thái Bình do ảnh hưởng của các hồ chứa (sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch thượng nguồn, báo cáo chia ra các thời đoạn sau: Tray, sông Văn Úc). - Giai đoạn dòng chảy ở chế độ tự nhiên: từ 2 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015 KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Bảng 1. Tỷ lệ lưu lượng dòng chảy các tháng mùa kiệt tại Thượng Cát Giai đoạn so với Sơn Tây qua các thời kỳ Tổng Qkiệt (XI-V) (m3/s) ∑QSơn Tây ∑QThượng Cát Tỷ lệ % (∑QTC/∑QST*100%) 1960 - 1970 1989 - 2006 2007 - 2014 10678.9 2000.8 18,7 11391.5 3255.2 28,6 12442.7 5784.1 46,5 Hình 1. Phân phối lưu lượng dòng chảy các tháng trong năm trạm Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Nội và Thượng Cát các thời kỳ. Việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn dòng chảy tự nhiên. Sự suy giảm hàm lượng đã giữ lại phần lớn lượng bùn cát trên vật liệu phù sa của sông Đà đã kéo theo sự thượng lưu hồ, làm cho lượng bùn cát của các sông thay đổi đáng kể. Trước hết là sự suy giảm hàm lượng bùn cát lơ lửng trung bình (Hình 2). Tại trạm Hòa Bình trên sông Đà, độ đục trung bình đã giảm từ trung bình năm đã giảm từ 571,4g/m3 xuống còn 71,1g/m3 giai đoạn 1989-2006 (giảm khoảng 87,6%) và 32,2g/m3 giai đoạn 2007- 2014 tương đương 99,6% so với giai đoạn suy giảm hàm lượng bùn cát ở hạ du sông Hồng: tại trạm Sơn Tây, độ đục trung bình năm giảm từ 581,4g/m3 thời kỳ 1960-1970 xuống 317,68g/m3 thời kỳ 1989-2006 và 146,7g/m3 thời kỳ 2007-2014. Tại trạm Hà Nội giảm từ 485g/m3 xuống còn 424,3g/m3 và 161,2g/m3. Tại trạm Thượng Cát giảm từ 619,9g/m3 xuống 471,5g/m3 và chỉ còn 231,9g/m3. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015 3 KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Hình 1. Phân phối độ đục trung bình các tháng trong năm tại Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Nội và Thượng Cát theo các thời kỳ xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn. 3.2. Xác định lượng bùn cát đổ ra vùng biển Đồ Sơn bằng mô hình MIKE 11ST a) Xây dựng mô hình MIKE 11ST cho hệ thống sông Hồng – Thái Bình: Mô hình thuỷ động lực và vận chuyển bùn cát cho toàn bộ hệ thống sông Hồng - Thái Bình được thiết lập bao gồm toàn bộ các sông trong hệ thống trong đó các sông Đà, sông Chảy và sông Gâm được giới hạn từ phía sau hạ du các hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang cho đến cửa sông. Tổng chiều dài các sông tham gia tính toán khoảng 1966,6 km, với 985 mặt cắt ngang. Bộ thông số mô hình được hiệu chỉnh với bộ cát có kết quả có kém hơn nhưng vẫn ở mức độ tươngđối tốt. số liệu tháng 8/2000 (từ ngày 1/8 và đến ngày 31/8/2000) và kiểm định với bộ số liệu tháng 7,8/2010. Kết quả tính toán cho thấy, sai số cho kết quả tốt với các trạm hiệu chỉnh thủy lực (lưu lượng, mực nước) như Sơn Tây, Hà Nội, Thượng Cát, Phả Lại, Hưng Yên,… còn với trạm kiểm định kết quả bùn Hình 2. Phạm vi tính toán trên mô hình Mike 11ST. 4 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015 KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Hình 4. Kết quả hiệu chỉnh mô hình thủy lực tháng 8 năm 2000. Hình 5. Kết quả hiệu chỉnh mô hình bùn cát tháng 8 năm 2000. [m^3/s] 9000.0 8500.0 8000.0 7500.0 7000.0 6500.0 6000.0 5500.0 5000.0 4500.0 4000.0 3500.0 3000.0 2500.0 2000.0 1500.0 1000.0 Time Series Discharge 9170.000000 6866.999023 4355.392090 2486.719482 Discharge HONG 30223.15 DUONG 4395.70 HONG 76693.00 External TS 1 QSon Tay QHa Noi QThuong Cat 2870.000000 11-7-2010 21-7- 2010 31-7-2010 10-8-2010 20-8-2010 30-8-2010 Hình 6. Kết quả kiểm định mô hình thủy lực tại một số trạm tháng 7-8/2010. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 26 - 2015 5 KHOA HỌC CÔNG NGHỆ [m^3/s] Time Series Sediment Transport 0.40 0.35 0.30 0.25 0.20 0.15 0.10 0.05 Sediment Transport KINHTHAY 9225.50 External TS 1 RBen Bni h [m^3/s] TimeSeries Sediment Transport 0.20 0.18 0.16 0.14 0.12 0.10

Tài liệu liên quan