LỜI NÓI ĐẦU Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là kể từ khi đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đến nay. Đất nước ta bước sang một thời kỳ mới với những tư duy mới, đường lối mới, định hướng mới có chọn lọc. Đất nước ta đã gặt hái được những thành tựu to lớn chưa từng có và được khắp năm châu đánh giá tốt, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Sự chuyển dịch nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế đất nước. Từ quản lý theo phương thức tập trung bao cấp giờ đây được vận hành theo cơ chế thị trường. Cơ chế này đã cuốn hút tiềm lực kinh tế ở mọi thành phần. Trong công cuộc đổi mới này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn lực giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ có năng lực sáng tạo trong cung cách quản lý. Là một người công dân, một thành viên của xã hội nói chung và của doanh nghiệp kinh tế nói riêng. Nhận thức đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình là “Gác tay súng, tiếp tay cầy” cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng nền kinh tế góp phần đưa kinh tế đất nước ta ngày một phát triển và dẫn đến “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” là mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra. Muốn vậy mọi người phải tự trau dồi kiến thức về mọi mặt cho mình để có trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ làm ăn kinh tế, trình độ quản lý kinh tế, phải có tích luỹ kinh nghiệm, phải suy nghĩ sáng tạo để làm giàu cho mình và cho xã hội nói chung. Bản thân được vinh dự là một sinh viên khoa kinh tế, ngành quản trị kinh doanh của Viện Đại Học Mở Hà Nội, qua những năm học đã được trau dồi tổng thể chương trình: Toán học, tin học, tâm lý xã hội. Marketing, kế toán tài chính...cung cấp các kiến thức cơ sở và chuyên môn hỗ trợ cho nghiên cứu môn học quản trị doanh nghiệp mà tôi xin được phép vận dụng để Phân tích hoạt động 1 sản xuất kinh doanh của công ty dịch vụ Hàng Không sân bay Nội Bài nơi tôi được phép thực tập, Công ty dịch vụ Hàng Không sân bay Nội Bài là một doanh nghiệp được thành lập trong thời kỳ đất nước có sự chuyển biến lớn nhất là sự chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế định hướng có sự điều tiết của Nhà nước. Trong bối cảnh công ty dịch vụ Hàng Không sân bay Nội Bài cũng vấp phải không ít khó khăn như cơ chế, nhân lực, vật lực và nguồn vốn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khoa học của ban lãnh đạo công ty, từng bước đã tháo gỡ được những vướng mắc ban đầu, dần đưa hoạt động kinh doanh và dịch vụ vào ổn định. Đến nay công ty đang trên đà phát triển mạnh, mở rộng các lĩnh vực hoạt động, tạo được uy tín với khách hàng và các đối tác cũng như các cơ quan liên quan. Trên tinh thần của hướng dẫn nội dung chuyên đề thực tầp, qua thu nhập số liệu thực tế trong hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm (1997- 1999) bằng kinh nghiệm thực tế, bằng kiến thức đã được học tập làm cơ sở cho báo cáo thực tập của mình. Song do điều kiện thời gian không nhiều, phần nào trong đó bản chuyên đề thực tập này chưa phản ánh hết được những yêu cầu đặt ra, không tránh khỏi những khiếm khuyết giữa lí luận và thực tế. Kính mong các thầy, cô và công ty dịch vụ Hàng Không sân bay Nội Bài đóng góp ý kiến để bản chuyên đề hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! 2 CHƯƠNG I HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG I/.CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG. 1/.Thị trường, cơ chế thị trường, đặc trưng của cơ chế thị trường.  Thị trường Thị trường là một phạm trù kinh tế, sự ra đời của nó gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường. Có quan điểm cho rằng thị trường là tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá dịch vụ. Nói cách khác thị trường hàng hoá là tổng thể các mối quan hệ mua bán, trao đổi và tiêu thụ hàng hoá bằng tiền. Một quan điểm khác cho rằng thị trường là tổng số nhu cầu (hoặc tập hợp về một loại hàng hoá nào đó) là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền tệ. Tuy nhiên, dưới góc độ chung nhất, chúng ta có thể hiểu thị trường bằng khái niệm chung nhất “thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình lưu thông” Qua đó các quyết định của công ty về việc sản xuất đầu tư được chung hoà bằng sự điều chỉnh giá cả.  Cơ chế thị trường Cơ chế thị trường là một hình thức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định 3 các vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế. Các bộ phận cấu thành của cơ chế thị trường là cung, cầu và giá cả thị trường. -Cung hàng hoá là số lượng hàng hoá mà người sản xuất muốn có khả năng sản xuất để bán theo mức giá nhất định. Như vậy, cung hàng hoá phản ánh mối quan hệ trực tiếp trên thị trường của hao biến số lượng hàng hoá dịch vụ cung ứng và giá cả trong một điều thời gian nhất định. -Cầu hàng hoá là số lượng hàng hoá người mua muốn và có khả năng mua theo mức giá nhất định, khi giá tăng thì cầu giảm. Cung- cầu và giá cả thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau không tách rời nhau. Giá cả tỷ lệ nghịch với nhu cầu và tỷ lệ thuận với cung cầu hàng hoá. Cơ chế thị trường mới du nhập vào nước ta, song đã nhanh chóng phát huy tác dụng của mình đối với nền kinh tế. Chỉ vài năm, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi rõ rệt, đặc biệt đã tạo ra được một vài môi trường kinh doanh sôi động với nhiều thành phần kinh tế tham gia.  Đặc trưng của cơ chế thị trường. Nền kinh tế nước ta hiện nay là một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước. Trước hết nó mang những đặc trưng của nền kinh tế thị trường tự do. Đó là thể chế kinh tế của những chủ thể tự chủ, tự do kinh doanh theo pháp luật. Các thành phần kinh tế vừa liên kết vừa hợp tác và phát triển đạt tới trình độ xã hội hoá cao. Tự do hoá kinh doanh và cạnh tranh tạo mọi khả năng cho thị trường, phát huy vai trò tự điều chỉnh sản xuất. Cạnh tranh là qui luật của kinh tế thị trường là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Trong điều 4 hành các hoạt động kinh tế (cơ chế quản lý). Các hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu dựa trên sự hướng dẫn của qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh, các mối liên hệ kinh tế. Tiền tệ trở thành thiếu do hiệu quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, quan hệ trở thành quan hệ thống trị trên thị trường. Mọi yếu tố của sản xuất phải đi vào thị trường. Để nền kinh tế vận hành bình thường cần phải chuyển đổi sang cơ chế kinh tế của các xí nghiệp kinh doanh dịch vụ, đặt nó thực sự đối mặt với thị trường. Ngoài những đặc điểm trên, nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay có những đặc điểm riêng. Mọi hoạt động kinh tế diễn ra đều có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. 2/.Vai trò kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt sau. -Do có tổ chức hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp dịch vụ nói riêng thực hiện chức năng xã hội lưu chuyển hàng hoá nên các doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ nhanh hàng hoá, tiết kiệm thời gian tiêu thụ thu hồi vốn nhanh. -Các tổ chức kinh doanh dịch vụ thông qua việc thực hiện lưu chuyển hành khách và dịch vụ làm cho thị trường hàng hoá mở rộng ra, phục vụ hành khách được tiêu dùng nhanh hơn, phí lưu thông mua sắm vật tư ít hơn so với các đơn vị sản xuất thực hiện cả chức năng mua bán hàng hoá và cuối cùng vật tư được sử dụng có hiệu quả hơn trong nền kinh tế. -Do đó các doanh nghiệp vật tư đảm bảo nhiệm khâu mua bán vật tư trong nền kinh tế với mạng lưới sâu rộng trong cả nước và mặt hàng đa 5 dạng, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị tiêu dùng mua bán vật tư với số lượng và thời gian theo đúng yêu cầu của sản xuất và khả năng thanh toán của mình. Nhờ đó giảm được một lượng dự trữ trong khâu sản xuất, tiết kiệm được vốn cho doanh nghiệp sản xuất. Vai trò to lớn của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân không chỉ thể hiện ở chức năng lưu chuyển hành khách mà còn đóng vai trò là người tổ chức sản xuất thông qua mua bán, giao dịch, dịch vụ...phát hiện ra những cơ sở có khả năng sản xuất và tạo điều kiện cho các đơn vị ấy sản xuất. Các doanh nghiệp dịch vụ Hàng không thực sự đóng vai trò tổ chức những mối liên kết trong nền kinh tế xã hội và tổ chức việc tiêu thụ hợp lý các nguồn vật tư hiện có. 3.Các nhóm chức năng thị trường. Gồm 4 chức năng thị trường sau:  Chức năng thực hiện: Đây là chức năng quan trọng nhất không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp kinh doanh mà còn có ý nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp kết thúc việc thực hiện hàng hoá sẽ ảnh hưởng mang tính chất, bản chất đến cuối cùng của quá trình tái sản xuất mở rộng.  Chức năng nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng và tình hình thị trường: Đây là nét đặc biệt của các doanh nghiệp thương mại tuỳ theo loại hình và vị trí của doanh nghiệp trong toàn bộ kênh phân phối nội dung và kỹ thuật nghiên cứu có điểm khác nhau, tuy nhiên yêu cầu chung của chức năng này với tất cả các doanh nghiệp là. 6 -Việc nghiên cứu được tiến hành trên bề mặt, mặt hàng đa dạng -Việc nghiên cứu được tiến hành đảm bảo vừa đánh giá tỷ trọng dung lượng thị trường còn có thể xâm nhập và khả năng tiềm tàng cũng như thế mạnh đứng vững trong cạnh tranh nhu cầu tiêu dùng và thị trường.  Chức năng giáo dục, giáo dưỡng: Với chức năng này doanh nghiệp thực hiện một bộ phận nhiệm vụ của xã hội trên bình diện giáo dục và giáo dưỡng tiêu dùng kinh tế, có mục tiêu hợp lý khoa học, với thị hiếu có thẩm mỹ trong tiêu dùng.  Chức năng tư vấn: Được áp dụng trong mối liên hệ với việc nâng cao tính chuyên ngành của quản lý, giảm thấp những mạo hiểm, rủi ro, nâng cao trình độ chuyên môn hoá khi thực hiện một số các hoạt động quyết định. Trên đây là những chức năng của doanh nghiệp theo quan điểm tiếp cận Marketing hiện đại thích ứng với vị trí đặc biệt và các mục đích kinh tế của xã hội. 4.Thực chất và nội dung của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh là những hoạt động trao đổi hay giao hàng hoá dịch vụ dựa trên cơ sở thuận mua vừa bán. Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất khi nói đến hoạt động kinh doanh phải nói đến giao dịch, liên quan đến việc mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất. Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp dịch vụ phục vụ bán ra cho người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm và là đối tượng chú trọng số một của sản xuất kinh doanh. Đó là điều kiện quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là quan trọng của 7 hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và các xí nghiệp nói riêng. Ở doanh nghiệp sản xuất không chỉ quan tâm đến việc tiêu thụ sản phẩm mà còn phải đảm bảo các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Đó chính là quá trình mua sắm vật tư cho sản xuất và tiêu thụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp. Như vậy, nội dung chủ yếu hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động liên quan và phục vụ quá trình sản xuất và tiêu thụ như tài chính, luật pháp dịch vụ, vận tải, khách sạn. Hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng lớn tới tất cả các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của doanh nghiệp. Nó có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay phải đặc biệt quan tâm tới khâu tổ chức quản lý đến nội dung của hoạt động kinh doanh. II/.HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ Ý NGHĨA CỦA MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP. 1/.Hệ thống chỉ tiêu. Cũng như tất cả các ngành kinh tế quốc dân, cơ chế hoạt động của ngành thương nghiệp không ngừng hoàn thiện, một trong những điều kiện phát triển kinh doanh là vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động và những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng công tác, ở đây là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn là việc xác định một chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động và những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của nghiệp vụ tiếp thị. Có thể đánh giá các chỉ tiêu sau. 8  Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn trong kinh doanh: Cho đến nay doanh nghiệp vẫn chưa tiến hành được kế hoạch hoá toàn diện sử dụng vốn. Nhưng đang hoạt động thực tiễn từng ngành cũng như từng đơn vị kinh tế cơ sở các chỉ tiêu tốc độ chu chuyển vốn (vốn lưu động, vốn cố định) thường được vận dụng để quản lý vốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. M M H = = (1) VKD V V + V KD CD LD M H = (2) VCD V CD M H = (3) VLD V LD Trong đó: H : Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp VKD H : Hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp VCD H : Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp VLD M : Tổng mức lưu chuyển hàng hoá theo giá bán thực tế của doanh nghiệp trong năm V : Toàn bộ vốn của doanh nghiệp kinh doanh bình quân trong năm KD V : Vốn lưu động bình quân trong năm LD V : Vốn cố định bình quân trong năm CD 9 Công thức (1) phản ánh tổng hợp chi tiêu về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, công thức (2), (3) phản ánh chỉ tiêu hiệu quả thành phần của vốn. Để phản ánh hiệu quả hạch toán của doanh nghiệp sử dụng công thức LN H = XN V KD Trong đó: H : Hiệu quả hạch toán của doanh nghiệp XN LN : Lợi nhuận của doanh nghiệp thu được Qua đó, nó biểu hiện hiệu quả hạch toán sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp thực hiện mở rộng MCL hh, giảm chi phí lưu thông về mặt vĩ mô có chính sách điều tiết thu nhập thoả đáng. -Tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh: Tổng chu chuyển của V trong 1 năm (tổng khấu hao) T = CĐ VCĐ V LĐ (vòng quay của vốn cố định trong năm) Tổng chu chuyển của V trong 1 năm T = LĐ VLĐ V LĐ (vòng quay của vốn cố định trong năm)  Những chỉ tiêu phản ánh. 10