70
Xã hội học số 1 (117), 2012
SỰ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG VIỆT QUA CÁC
GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
(Trường hợp làng Tam Sơn)
LÊ MẠNH NĂM0F1*
1. Một số lưu ý về luận
Trong tác phẩm “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” (1984), Trần
Từ đã mô tả năm “tập họp người” và lý giải vì sao chúng có thể “vận hành như một tổng
thể”. Tác giả không nói rõ đã lựa chọn hoặc vận dụng lý thuyết nào mà chỉ cho biết “Điều
duy nhất có thể làm được trong lúc này là nêu lên theo những trật tự nào đó (có phần võ
đoán) những câu hỏi mà tôi (tác giả) đã vấp phải trong quá trình tìm hiểu thực địa”. Tuy
vậy, công trình này gợi ra những khía cạnh lý luận quan trọng như nguyên lý về sự tập
họp xã hội của con người. Để sinh sống, con người đã tập họp lại thành những nhóm xã
hội khác nhau. Nhìn vào bất cứ tập họp người nào cũng thấy ẩn chứa những cơ sở, những
nguyên tắc mà ai cũng phải tuân theo. Chẳng hạn, những người sống trên cùng địa vực,
cùng huyết thống, cùng sở thích hoặc cùng mục đích chính trị… đã tập họp thành các tổ
chức tương ứng là ngõ-xóm, họ, phe-phường-hội và đảng phái.
Các câu ngạn ngữ như “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, “một giọt máu đào hơn
ao nước lã”, “buôn có bạn, bán có phường”, “một người làm quan cả họ được nhờ”… như
đã nói lên cơ sở khác nhau cho những tập họp người. Phải chăng, tính tự trị làng xã, cát
cứ địa phương và sự trị vì đất nước “th eo cha truyền con nối” là sự thống trị của nguyên
lý địa vực và huyết thống trong xã hội cổ truyền? Xã hội hiện đại đã ra đời từ sự phát
triển ngày càng đa dạng các tập họp người dựa theo lòng tự nguyện tham gia của cá nhân.
Nhưng các tập họp người nảy sinh từ xã hội cổ truyền vẫn không hoàn toàn mất đi nên
cần tìm hiểu các hình thức thể hiện hoặc biến thái của nó.
Theo chúng tôi, nhìn cơ cấu tổ chức xã hội theo các nguyên lý “tập họp xã hội” có
thể bổ sung cho cách nhìn theo quan điểm giai cấp. Rất có thể, những thay đổi về giai cấp
cũng mới chỉ phản ánh một khía cạnh sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt. Là một “tế
bào sống” nảy sinh từ xã hội cổ truyền của người Việt, tính tự trị của làng xã ở Bắc Bộ
Việt Nam đã cho phép nó dung nạp nhiều loại hình tổ chức khác nhau trong thế độc lập
tương đối với bộ máy tập quyền trung ương và dù được cải tạo XHCN những cơ sở của
sự tập họp người đó vẫn chi phối diên mạo cơ cấu tổ chức xã hội tại làng xã. Hiện nay,
trong điều kiện phát triển theo kinh tế thị trường thì cùng với khu vực tổ chức nhà
nước cũng đang hình thành khu vực tổ chức xã hội dân sự. Đó là những diễn biến
đang đòi hỏi những cơ sở vận hành mới, sự ra đời và chi phối của những nguyên lý tập
* ThS, Viện hội học.
Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn
Mạnh Năm
71
họp xã hội mới. Nghiên cứu về biến đổi cơ cấu tổ chức, vì thế, sẽ
cho thấy sự biến đổi
cơ cấu xã hội Việt Nam.
2. Làng Tam Sơn sự biến đổi diện mạo tổ chức qua các giai đoạn lịch sử
a) Làng Tam Sơn: địa bàn, đặc điểm, tên gọi.
Tam Sơn là tên gọi một làng xã đồng bằng, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Sách cổ viết: “Núi Tam Sơn ở cách huyện Đông Ngàn 10 dặm về phía Tây Bắc. Giữa
đồng bằng nối vọt lên ba ngọn núi như chuỗi hạt châu. Xã Tam Sơn là nhân tên núi mà
gọi” (Đại Nam nhất thống chí, tập III: 71).Từ quang cảnh và địa danh Tam Sơn vẫn khiến
người bên ngoài dễ lẫn lộn giữa ba cấp hành chính là thôn (làng), tổng Tam Sơn1F1.
Sự lẫn lộn còn do làng Tam Sơn xưa vốn “nhất xã nhất thôn”, dù đã sát nhập thêm 3 làng
xã khác, vẫn lấy tên là xã Tam Sơn, nhưng làng Tam Sơn cổ xưa đến nay vẫn tồn tại khá
độc lập và nằm ở vị trí trung tâm xã.
Các làng ở xã Tam Sơn hiện vẫn còn cách biệt nhau bởi ruộng lúa và các khóm
tre. Mỗi làng vẫn lưu giữ các công trình cổ truyền là đình, đền, chùa, nhà thờ họ cùng
những sinh hoạt lễ hội, giỗ chạp được tổ chức riêng theo lịch hàng
năm (Biểu 1). Đổi
mới, qua phong trào khôi phục phong tụctín ngưỡng tại các làng xã (Lê Mạnh Năm,
2003) đã cho thấy sự trỗi dậy của ý nghĩa “khái niệm làng” với những đặc điểm và sắc
thái văn hóa của nó.
Biểu 1: Các làng cổ truyền trong Tam Sơn các di tích vật thể
S
Làng
Số xóm
Đình; thành hoàng
Đền
Chùa
Ngày lễ hội,
TT
(thôn)
(hiện nay)
làng
Ngày giỗ
6 xóm
-7 gian
Nguyễn
- Cảm ứng
- Lễ hội từ 8
(Núi,
- Sơn thần
Quan
(xây dựng lại
12/1
Trước,
- Nguyễn Tự Cường
Quang (trên
2007)
- Giỗ Nguyễn
1
Tam
Đông,
(Tiến sĩ 1514)
núi Vường)
- Linh Khánh
Quan Quang
Sơn
Xanh, Ô,
- Nguyễn Quan
(đã hỏng)
22/1
Tây)
Quang (trạng
- Giỗ Nguyện
nguyên 1246)
Tự Cường 16
18/8
3 xóm
-7 gian (sửa chữa
- Sùng Khánh
- Lễ hội từ 12 -
(Trúc, Chi,
1891)
(xây dựng
18/1
2
Dương
Tự)
- Thánh Tam Giang
1679)
- Giỗ 10/4
Sơn
(TK VI)
1 xóm
-5 gian (sửa chữa
- Diên Phúc
- Lễ hội từ 7
3
Thọ
(Thọ Trai)
1800)
(xây dựng
18/1
Trai
- Thánh Gióng
1757)
- Khánh hạ khao
(Hùng Vương thứ 6)
quân 12/10
1 xóm
-7 gian (xây dưng
- Diên Phúc
- Lễ hội từ 7
Phúc
(Phúc Tinh)
1902)
(xây dựng,
10/2
4
Tinh
- Trương Hống,
sửa chữa 1911)
Trương Hát
1 Các văn bản hành chính cũ ghi theo thứ tự: …Tam Sơn tổng, Tam Sơn xã, Tam Sơn thôn.
Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn
72
Sự biến đổi cấu tổ chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử
Làng Tam Sơn năm 2008 có 930 hộ với 3500 khẩu, một tập họp gồm 6 xóm trong
tổng số 11 xóm của xã. Người trong làng vẫn kể cho nhau nghe những sự tích về sự hình
thành, khai phá đất đai, mở mang sản xuất và về phong tục tập quán. Và, “hiểu được làng
Việt là trong tay có cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng
và xã hội Việt Nam… cả trong những phản ứng của nó trước tình huống mà lịch sử
đương đại đặt nó vào” (Trần Từ, 1984: 12).
b) Những thay đổi trong các “thông số bản” của làng
Từ cơ sở kinh tế và hợp thể giai cấp Trần Từ (1984) đã nêu thành “những thông số
cơ bản” của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Phỏng theo đó, các thông số cơ bản tại làng
Tam Sơn qua các giai đoạn được chúng tôi tóm tắt như sau (Biểu 2):
Biểu 2: Các thông số bản làng Tam Sơn qua các giai đoạn lịch sử
Ruộng đất
Giai cấp
Đặc điểm kinh tế xã hội
(chế độ sở hữu)
(mức độ tồn tại)
(nổi bật)
Trước
“Chế độ ruộng đất tư và sự tồn
tại của công điền.”
“Đã phân hoá giai cấp”.
- Địa chủF122: 23,0%
“Một xã hội tiểu nông, tư
hữu”
1945
- Ruộng công: 20%
- Phú và trung nông: 50%
- Nông nghiệp (trồng trọt)
- Ruộng tư :80%
- Bần và cố nông 27,0%
- Nghề dệt vải
Giai
“Ruộng tập thể” và “đất kinh tế
“Thực hiện xóa bỏ giai cấp”
“Một xã hội kế hoạch hoá tập
đoạn
phụ gia đình”
- Bộ phận lãnh đạo, quản lý
chung bao cấp, bình quân (
hợp
- Ruộng tập thể: 95%
(Đảng, cơ quan, hợp tác
công xã )”
tác
- Ruộng 5% gia đình
xã..)
- Nông nghiệp + TTCN...
hoá
- Xã viên hợp tác xã.
Từ
“Chế độ đất đai sở hữu toàn
“Đã và đang phân hoá xã
“Một xã hội tiểu hỗn hợp và
1986
dân”: 100% (1993)
hội”
quyền sử dụng đất”.
đến
- Giao QSD ruộng canh tác 20
- Phân hóa giàu nghèo
- Đa dạng các thành phần.
nay
năm. BQ 3 sào/lao động.
- Phân tầng xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu k.tế
- Xuất hiện “địa chủ” mới.
Qua diễn biến giữa “các thông số cơ bản” ta thấy có sự thay đổi đột ngột mang tính
xáo trộn và đứt đoạn tại những năm đầu của giai đoạn hợp tác hóa. Trước năm 1945, chế
độ ruộng tư ở Tam Sơn đã áp đảo vì ruộng công chỉ còn 20%. Nếu so với con số chung
24,5% thống kê từ 3.653 xã ở miền Bắc vào năm 1953 (Trần Từ, 1984) thì tỷ lệ ruộng
công ở Tam Sơn còn ít hơn. Ngoài số ruộng ở làng, địa chủ Tam Sơn còn mua thêm
50/124 mẫu ruộng làng Thọ Trai và 200/526 làng Phúc Tinh (UBND xã Tam Sơn, 1993:
23). Phân hóa về ruộng đất là nội dung chủ yếu của phân hóa giai cấp. Nhưng sau năm
1945, Cải cách ruộng đất và cải tạo XHCN ngay từ đầu đã nhanh chóng xóa bỏ quá trình
tích tụ, tư hữu ruộng đất đã diễn ra chậm chạp qua nhiều thế kỷ và kéo theo đó cũng là sự
xóa bỏ giai cấp. Từ năm 1986 đến nay, việc hộ gia đình nhận lại “quyền sử dụng đất”
cũng đã mang ý nghĩa một phần của chế độ sở hữu ruộng tư trước năm 1945. Ngày nay,
người ta cũng đang nói tới sự phân hóa giàu-nghèo, sự xuất hiện của “địa chủ mới” ở
nông thôn.
2
Từ 3 mẫu ruộng trở lên là
địa chủ, dưới 3 mẫu, nếu bóc lột 241 công/năm là phú nông, dưới 240
công/năm là trung nông lớp trên - Tỷ lệ ở ô này là tính chung cả xã gồm 4 làng.
Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 1 | Lần xem: 0 | Page: 0 | FileSize: M | File type: PDF
0 lần xem

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử. Bài viết đề cập những diễn biến, cơ sở vận hành mới, sự ra đời và chi phối của những nguyên lý tập họp xã hội mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu về biến đổi cơ cấu tổ chức, cơ cấu xã hội Việt Nam.. Cũng như các tài liệu khác được bạn đọc giới thiệu hoặc do tìm kiếm lại và chia sẽ lại cho các bạn với mục đích học tập , chúng tôi không thu phí từ người dùng ,nếu phát hiện nội dung phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho chúng tôi,Ngoài giáo án bài giảng này, bạn có thể tải đề thi, giáo trình phục vụ nghiên cứu Một ít tài liệu tải về lỗi font chữ không xem được, có thể máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn download các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://slideshare.vn/lichsuvanhoa/su-bien-doi-co-cau-to-chuc-lang-viet-qua-cac-giai-doan-lich-su-r99buq.html

Nội dung


70

Xã biến
hội học
1 (117),
Sự
đổisốcơ
cấu tổ2012
chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử

SỰ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG VIỆT QUA CÁC
GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
(Trường hợp làng Tam Sơn)
LÊ MẠNH NĂM *
F
0
1

1. Một số lưu ý về lý luận
Trong tác phẩm “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” (1984), Trần
Từ đã mô tả năm “tập họp người” và lý giải vì sao chúng có thể “vận hành như một tổng
thể”. Tác giả không nói rõ đã lựa chọn hoặc vận dụng lý thuyết nào mà chỉ cho biết “Điều
duy nhất có thể làm được trong lúc này là nêu lên theo những trật tự nào đó (có phần võ
đoán) những câu hỏi mà tôi (tác giả) đã vấp phải trong quá trình tìm hiểu thực địa”. Tuy
vậy, công trình này gợi ra những khía cạnh lý luận quan trọng như nguyên lý về sự tập
họp xã hội của con người. Để sinh sống, con người đã tập họp lại thành những nhóm xã
hội khác nhau. Nhìn vào bất cứ tập họp người nào cũng thấy ẩn chứa những cơ sở, những
nguyên tắc mà ai cũng phải tuân theo. Chẳng hạn, những người sống trên cùng địa vực,
cùng huyết thống, cùng sở thích hoặc cùng mục đích chính trị… đã tập họp thành các tổ
chức tương ứng là ngõ-xóm, họ, phe-phường-hội và đảng phái.
Các câu ngạn ngữ như “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, “một giọt máu đào hơn
ao nước lã”, “buôn có bạn, bán có phường”, “một người làm quan cả họ được nhờ”… như
đã nói lên cơ sở khác nhau cho những tập họp người. Phải chăng, tính tự trị làng xã, cát
cứ địa phương và sự trị vì đất nước “theo cha truyền con nối” là sự thống trị của nguyên
lý địa vực và huyết thống trong xã hội cổ truyền? Xã hội hiện đại đã ra đời từ sự phát
triển ngày càng đa dạng các tập họp người dựa theo lòng tự nguyện tham gia của cá nhân.
Nhưng các tập họp người nảy sinh từ xã hội cổ truyền vẫn không hoàn toàn mất đi nên
cần tìm hiểu các hình thức thể hiện hoặc biến thái của nó.
Theo chúng tôi, nhìn cơ cấu tổ chức xã hội theo các nguyên lý “tập họp xã hội” có
thể bổ sung cho cách nhìn theo quan điểm giai cấp. Rất có thể, những thay đổi về giai cấp
cũng mới chỉ phản ánh một khía cạnh sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt. Là một “tế
bào sống” nảy sinh từ xã hội cổ truyền của người Việt, tính tự trị của làng xã ở Bắc Bộ
Việt Nam đã cho phép nó dung nạp nhiều loại hình tổ chức khác nhau trong thế độc lập
tương đối với bộ máy tập quyền trung ương và dù được cải tạo XHCN những cơ sở của
sự tập họp người đó vẫn chi phối diên mạo cơ cấu tổ chức xã hội tại làng xã. Hiện nay,
trong điều kiện phát triển theo kinh tế thị trường thì cùng với khu vực tổ chức nhà
nước cũng đang hình thành khu vực tổ chức xã hội dân sự. Đó là những diễn biến
đang đòi hỏi những cơ sở vận hành mới, sự ra đời và chi phối của những nguyên lý tập
*

ThS, Viện Xã hội học.

Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

Lê Mạnh Năm

71

họp xã hội mới. Nghiên cứu về biến đổi cơ cấu tổ chức, vì thế, sẽ cho thấy sự biến đổi
cơ cấu xã hội Việt Nam.
2. Làng Tam Sơn và sự biến đổi diện mạo tổ chức qua các giai đoạn lịch sử
a) Làng Tam Sơn: địa bàn, đặc điểm, tên gọi.
Tam Sơn là tên gọi một làng xã đồng bằng, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Sách cổ viết: “Núi Tam Sơn ở cách huyện Đông Ngàn 10 dặm về phía Tây Bắc. Giữa
đồng bằng nối vọt lên ba ngọn núi như chuỗi hạt châu. Xã Tam Sơn là nhân tên núi mà
gọi” (Đại Nam nhất thống chí, tập III: 71). Từ quang cảnh và địa danh Tam Sơn vẫn khiến
người bên ngoài dễ lẫn lộn giữa ba cấp hành chính là thôn (làng), xã và tổng Tam Sơn 1.
Sự lẫn lộn còn do làng Tam Sơn xưa vốn “nhất xã nhất thôn”, dù đã sát nhập thêm 3 làng
xã khác, vẫn lấy tên là xã Tam Sơn, nhưng làng Tam Sơn cổ xưa đến nay vẫn tồn tại khá
độc lập và nằm ở vị trí trung tâm xã.
F
1

Các làng ở xã Tam Sơn hiện vẫn còn cách biệt nhau bởi ruộng lúa và các khóm
tre. Mỗi làng vẫn lưu giữ các công trình cổ truyền là đình, đền, chùa, nhà thờ họ cùng
những sinh hoạt lễ hội, giỗ chạp được tổ chức riêng theo lịch hàng năm (Biểu 1). Đổi
mới, qua phong trào khôi phục phong tục–tín ngưỡng tại các làng xã (Lê Mạnh Năm,
2003) đã cho thấy sự trỗi dậy của ý nghĩa “khái niệm làng” với những đặc điểm và sắc
thái văn hóa của nó.
Biểu 1: Các làng cổ truyền trong xã Tam Sơn và các di tích vật thể
S
TT

Làng
(thôn)

1

Tam
Sơn

2

Dương
Sơn

3

Thọ
Trai

4

1

Phúc
Tinh

Số xóm
(hiện nay)
6 xóm
(Núi,
Trước,
Đông,
Xanh, Ô,
Tây)

Đình; thành hoàng
làng
-7 gian
- Sơn thần
- Nguyễn Tự Cường
(Tiến sĩ 1514)
- Nguyễn Quan
Quang (trạng
nguyên 1246)

3 xóm
(Trúc, Chi,
Tự)

-7 gian (sửa chữa
1891)
- Thánh Tam Giang
(TK VI)
-5 gian (sửa chữa
1800)
- Thánh Gióng
(Hùng Vương thứ 6)
-7 gian (xây dưng
1902)
- Trương Hống,
Trương Hát

1 xóm
(Thọ Trai)

1 xóm
(Phúc Tinh)

Đền
Nguyễn
Quan
Quang (trên
núi Vường)

Chùa
- Cảm ứng
(xây dựng lại
2007)
- Linh Khánh
(đã hỏng)

- Sùng Khánh
(xây dựng
1679)
- Diên Phúc
(xây dựng
1757)
- Diên Phúc
(xây dựng,
sửa chữa 1911)

Ngày lễ hội,
Ngày giỗ
- Lễ hội từ 8 –
12/1
- Giỗ Nguyễn
Quan Quang
22/1
- Giỗ Nguyện
Tự Cường 16 –
18/8
- Lễ hội từ 12 18/1
- Giỗ 10/4
- Lễ hội từ 7 –
18/1
- Khánh hạ khao
quân 12/10
- Lễ hội từ 7 –
10/2

Các văn bản hành chính cũ ghi theo thứ tự: …Tam Sơn tổng, Tam Sơn xã, Tam Sơn thôn.

Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử

72

Làng Tam Sơn năm 2008 có 930 hộ với 3500 khẩu, một tập họp gồm 6 xóm trong
tổng số 11 xóm của xã. Người trong làng vẫn kể cho nhau nghe những sự tích về sự hình
thành, khai phá đất đai, mở mang sản xuất và về phong tục tập quán. Và, “hiểu được làng
Việt là trong tay có cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng
và xã hội Việt Nam… cả trong những phản ứng của nó trước tình huống mà lịch sử
đương đại đặt nó vào” (Trần Từ, 1984: 12).
b) Những thay đổi trong các “thông số cơ bản” của làng
Từ cơ sở kinh tế và hợp thể giai cấp Trần Từ (1984) đã nêu thành “những thông số
cơ bản” của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Phỏng theo đó, các thông số cơ bản tại làng
Tam Sơn qua các giai đoạn được chúng tôi tóm tắt như sau (Biểu 2):
Biểu 2: Các thông số cơ bản làng Tam Sơn qua các giai đoạn lịch sử

Trước
1945
Giai
đoạn
hợp
tác
hoá
Từ
1986
đến
nay

Ruộng đất
(chế độ sở hữu)
“Chế độ ruộng đất tư và sự tồn
tại của công điền.”
- Ruộng công: 20%
- Ruộng tư :80%
“Ruộng tập thể” và “đất kinh tế
phụ gia đình”
- Ruộng tập thể: 95%
- Ruộng 5% gia đình
“Chế độ đất đai sở hữu toàn
dân”: 100% (1993)
- Giao QSD ruộng canh tác 20
năm. BQ 3 sào/lao động.

Giai cấp
(mức độ tồn tại)
“Đã phân hoá giai cấp”.
- Địa chủ 2: 23,0%
- Phú và trung nông: 50%
- Bần và cố nông 27,0%
“Thực hiện xóa bỏ giai cấp”
- Bộ phận lãnh đạo, quản lý
(Đảng, cơ quan, hợp tác
xã..)
- Xã viên hợp tác xã.
“Đã và đang phân hoá xã
hội”
- Phân hóa giàu nghèo
- Phân tầng xã hội
- Xuất hiện “địa chủ” mới.
F
2
1

Đặc điểm kinh tế xã hội
(nổi bật)
“Một xã hội tiểu nông, tư
hữu”
- Nông nghiệp (trồng trọt)
- Nghề dệt vải
“Một xã hội kế hoạch hoá tập
chung bao cấp, bình quân (
công xã )”
- Nông nghiệp + TTCN...
“Một xã hội tiểu hỗn hợp và
quyền sử dụng đất”.
- Đa dạng các thành phần.
- Chuyển dịch cơ cấu k.tế

Qua diễn biến giữa “các thông số cơ bản” ta thấy có sự thay đổi đột ngột mang tính
xáo trộn và đứt đoạn tại những năm đầu của giai đoạn hợp tác hóa. Trước năm 1945, chế
độ ruộng tư ở Tam Sơn đã áp đảo vì ruộng công chỉ còn 20%. Nếu so với con số chung
24,5% thống kê từ 3.653 xã ở miền Bắc vào năm 1953 (Trần Từ, 1984) thì tỷ lệ ruộng
công ở Tam Sơn còn ít hơn. Ngoài số ruộng ở làng, địa chủ Tam Sơn còn mua thêm
50/124 mẫu ruộng làng Thọ Trai và 200/526 làng Phúc Tinh (UBND xã Tam Sơn, 1993:
23). Phân hóa về ruộng đất là nội dung chủ yếu của phân hóa giai cấp. Nhưng sau năm
1945, Cải cách ruộng đất và cải tạo XHCN ngay từ đầu đã nhanh chóng xóa bỏ quá trình
tích tụ, tư hữu ruộng đất đã diễn ra chậm chạp qua nhiều thế kỷ và kéo theo đó cũng là sự
xóa bỏ giai cấp. Từ năm 1986 đến nay, việc hộ gia đình nhận lại “quyền sử dụng đất”
cũng đã mang ý nghĩa một phần của chế độ sở hữu ruộng tư trước năm 1945. Ngày nay,
người ta cũng đang nói tới sự phân hóa giàu-nghèo, sự xuất hiện của “địa chủ mới” ở
nông thôn.
2

Từ 3 mẫu ruộng trở lên là địa chủ, dưới 3 mẫu, nếu bóc lột 241 công/năm là phú nông, dưới 240
công/năm là trung nông lớp trên - Tỷ lệ ở ô này là tính chung cả xã gồm 4 làng.

Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

Lê Mạnh Năm

73

Thấy rõ những cách thức thay đổi mang tính xáo trộn và đứt đoạn trong các “thông
số cơ bản của xã hội” là cơ sở quan trọng không chỉ để thấy sự biến đổi cơ cấu tổ chức mà
cả trong tổng kết lý luận về thực tiễn Đổi mới hiện nay.
c) Diễn biến diện mạo các tổ chức xã hội qua các giai đoạn.
Dựa vào các nguồn tư liệu và khảo sát hồi cố, diễn biến diện mạo các tổ chức xã hội
qua các giai đoạn được tóm tắt tại Biểu 3.
● Về tập họp người trên địa vực (XÓM – NGÕ)
Làng xóm Tam Sơn hiện nay vẫn lấy theo địa danh cổ truyền. Các nguồn tư liệu
cho biết xóm Núi và xóm Xanh là xóm gốc, về sau do dân số và mở mang đất ở mà hình
thành thêm các xóm có tên theo phương hướng: Tây, Đông, Trước. Khi lên hợp tác toàn
xã, xóm trở thành đội sản xuất, mang tên đội 5, 6, 7, 8, 9, 10, nhưng đến nay người dân
vẫn quen gọi theo tên xóm cổ xưa.
Biểu 3 : Diện mạo các tổ chức làng Tam Sơn qua các giai đoạn.
Trước năm 1945
Ngõ,
xóm

Họ

Phe,
Phường
Hội
Chính
quyền và
các tổ
chức mở
rộng

-3 thôn: Tây, Xanh, Lẻ.
-6 xóm: Tây,Xanh,Ô,Núi ,
Trước, Đông.
- “Phân bố thành khối chặt…”
- Khoảng 20 dòng họ lớn bé
- Họ lớn Ngô Sách, Ngô Đồng
Đường, Ngô Đức…
- Phân bố khá tập trung theo
xóm hoặc ngõ
- Phường thịt lợn, phường hụi,
phường bát âm.
- Phe tư văn, phe giáp.
-Hội bản tuổi, hội quan họ, hội
vãi quy
- Hội Đồng lý dịch: lý trưởng,
phó lý, thư ký, thủ quỹ, trưởng
bạ.
- Hội Đồng kỳ mục: tiến chỉ,
thứ chỉ và đại diện các xóm,
các họ.

Giai đoạn hợp tác hóa
- 6 đội sản xuất (6 xóm)
- Dân số tăng lên nhiều hơn
ở xóm Tây, Đông, Ô..
- Sau 1945: thêm họ Đào, họ
Dương
- 1975: thêm họ Dư
- Tổ chức họ mờ nhạt, nhiều
họ không sinh hoạt
-Xóa bỏ phần lớn phe,
phường, hội trước 1945
-Còn bàn kèn, nhưng tư cách
tổ chức không rõ ràng
- 1 Chi bộ thôn, 6 tổ Đảng
- 6 đội SX nông nghiệp
- HTX ngành nghề ( gạch,
hộp giấy, đan lát, chuổi…)

Từ năm 1986 đến nay
- Xuất hiện dẫy nhà mới
dọc đường đầu làng.
- Từ 2002: có 60 trưởng
ngõ và 49 tổ liên gia
- Tổ chức và sinh hoạt
họ khôi phục lại
- Các nhà thờ đều được
sửa chữa hoặc làm mới
- Khôi phục và xuất hiện
các tổ chức xã hội tự
nguyện (khoảng 20 tổ
chức: nhóm, hội, câu lạc
bộ, đoàn…)
- 6 Chi bộ xóm.
- Trưởng thôn.
- HTX dịch vụ thôn
- các tổ chức chính trị-xã
hội

Đi vào các xóm ta còn thấy các ngõ hẹp cổ truyền lát gạch nghiêng. Quan sát cách
phân bổ ngõ-xóm thấy có kiểu phân bổ “lẻ tẻ” tại xóm Núi và xóm Tây và kết hợp kiểu “ô
bàn cờ” tại các xóm khác. Thực trạng ngõ-xóm phản ánh những kiến tạo theo từng địa
vực, kết hợp từ thế đất, sức ép dân số cùng sự hiệp sức khai phá, thỏa hiệp của người làng
xã qua các giai đoạn lịch sử. Qúa trình đó cũng tạo ra quan hệ xóm giềng và những liên
kết nhóm ẩn tàng theo ngõ-xóm. Các cụ cho biết, các tuyến ngõ xưa đều có trưởng ngõ để
phối hợp bảo vệ an ninh. Thời hợp tác hóa không có trưởng ngõ, nhưng có bảo vệ xóm.
Từ năm 2002 làng lại cử ra trưởng ngõ và trưởng liên gia. Khi có công việc, như

Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

74

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức làng Việt qua các giai đoạn lịch sử

làm đường thì trưởng ngõ đứng ra thu tiền, rồi đôn đốc công tác vệ sinh... Còn tổ liên gia
lại tổ chức theo cụm nhà ở, nhằm phối hợp với trưởng ngõ. Người dân cho biết, quan hệ
xóm giềng trước hết là người trong cụm ngõ rồi mới ra xóm ra làng. Có quan hệ với ai ở
làng khác là do có họ hàng hoặc làm ăn gì đó với nhau. “Ở gần nhau, mình không quan
tâm đến họ thì lúc hoạn nạn, khó khăn, lúc có hiếu có hỷ ai người ta đến với mình”
(Phỏng vấn sâu nữ, 40 tuổi, xóm Tây). Câu nói xưa: “hàng xóm tắt lửa tối đèn có
nhau”…, xem thế, vẫn còn là thế ứng xử của người làng Tam Sơn, phản ánh những tập
họp người theo địa vực.
● Tập họp người theo huyết thống (HỌ)
Họ là tập họp người dựa vào nguồn “cộng cảm huyết thống”, với quan niệm tự
nhiên: liên hệ giữa những người cùng máu mủ ruột rà, dù xa hay gần, vẫn khác so với
người không cùng huyết thống ("khác máu tanh lòng", "một giọt máu đào hơn ao nước
lã"). Xóm Núi, xóm Xanh còn di tích đền, miếu minh chứng nơi lập nghiệp sớm của họ
Ngô, họ Nguyễn. Làng có khoảng 20 dòng họ lớn bé và phần lớn đều cư trú từ lâu đời,
nhưng cũng có vài họ bên ngoài đến muộn hơn, như họ Đào đến sau năm 1945, họ Dư
đến sau 1975.
Họ là tổ chức vốn được coi trọng trong xã hội cổ truyền nhưng sau cách mạng sinh
hoạt theo tổ chức dòng họ không còn được khuyến khích. Từ khi Đổi mới tổ chức họ ở
Tam Sơn nổi lên qua việc tu sửa, xây dựng lại nhà thờ họ, tìm lại gia phả và tổ chức giỗ
họ. Một cụ kể: “làng Tam Sơn vẫn còn lưu giữ được 8 nhà thờ họ xây dựng từ trước 1945.
Có nhà thờ bị hỏng hết vẫn đang giữ đất để xây dựng lại như của họ Ngô Bá xóm Tây…”
(Phỏng vấn sâu nam, 83 tuổi, xóm Xanh). Một cụ khác tự hào kể:
“Họ tôi ở đây gia phả ghi chép được 16 đời, khoảng 400 năm có 30 lý hào, 1 tuần
phủ, 3 chánh tổng, 1 phó tổng, 8 lý đường”… “các họ Ngô khác như Ngô đồng
đường ghi được 15 đời, Ngô gia 11 đời… Giỗ của họ cỡ trung bình, như họ Ngô
văn, cũng tới 45 mâm, họ lớn có năm tới 100 mâm, nhiều người ở xa vẫn về”
(Phỏng vấn sâu nam, 78 tuổi, xóm Ô).
Thực tế trên khiến ta nhớ lại, vẫn câu hỏi Trần Từ (1984: 42) đặt ra: “liệu chất
men cộng cảm dấy lên từ quan hệ đồng huyết giữa những người cùng họ còn có ích gì
cho từng gia đình nhỏ sống và lao động giữa nhiều gia đình nhỏ khác không nhất thiết
cùng huyết thống, thuộc địa vực của ngõ, của xóm, của làng?”. Tại làng Tam Sơn,
chúng tôi thấy việc khôi phục lại tổ chức dòng họ vẫn chưa mạnh so với số làng có kinh
tế phát triển như Đồng Kỵ, làng Bát Tràng. Nội dung khái niệm "gia đình nhỏ” ở Tam
Sơn là khá ứng hợp với gia đình hạt nhân 3 chỉ gồm vợ, chồng và con cái chưa lập gia
đình, nên việc “nhen lại ngọn lửa cộng cảm” cũng là mở rộng liên hệ huyết thống với
những người ở bên ngoài gia đình hạt nhân đó, để phối hợp mở mang ngành nghề phát
triển kinh tế. Nhiều họ ở làng Tam Sơn đã lập ra quỹ khuyến học để động viên con em
mình học giỏi, thi cử đỗ đạt.
F
3
1

3

Bình quân 1 hộ ở làng Tam Sơn chỉ 3.8 khẩu (1992) và 4,08 khẩu (2006) trong khi ở làng Đồng Kỵ là
5,2 khẩu (2006).

Bản quyền thuộc Viện Xã hội học, www.ios.org.vn

1144429

Tài liệu liên quan