Xử lý
nước
thải
nuôi
trồng
thuỷ
sản
bằng
phương
pháp
sinh
học
Hoàng Văn Phong
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS Chuyên ngành: Hoá môi trường; Mã số: 60 44 41
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Đình Bảng
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Đánh giá chất lượng nước thải trại sản xuất giống hải sản. Nghiên
cứu thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải từ sản xuất giống
cua xanh trên bể kính. Thực nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh trong sản xuất
giống cua xanh.
Content
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển sản xuất giống hải sản góp phần đảm bảo nhu cầu con giống cho sự gia tăng sản
lượng nuôi. Hàng năm các trại sản xuất giống nói chung và cua biển nói riêng đã thải ra ngoài một
lượng lớn nước không qua xử lý. Nước thải chứa thức ăn thừa, chất bài tiết, phân, vi khuẩn gây
bệnh, kháng sinh... có khả năng gây hại cho vực nhận nước. Hậu quả là dịch bệnh ngày càng xảy ra
thường xuyên với mức độ nghiêm trọng hơn.
Nghiên cứu xử lý nước thải bằng sinh học để có thể tái sử dụng nước, giảm bớt lượng nước
cần thay trong ngày, ổn định môi trường cho ấu trùng phát triển đã đem lại hiệu quả thiết thực cho
nhiều cơ sở sản xuất thủy sản nhất là những cơ sở có khó khăn về nguồn nước mặn.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “NGHIÊN CỨU XỬ
NƢỚC THẢI NUÔI
TRỒNG THUỶ SẢN
BẰNG PHƢƠNG PHÁP SINH HỌC. Trong
khuân khổ luận văn thạc sỹ tôi lựa chọn đối tượng là nước thải từ hoạt động sản xuất cua biển
(Scylla serata).
Mục tiêu đề tài
-
Nghiên cứu xử lý nước thải trong trại sản xuất giống hải sản bằng phương pháp sinh học
-
Góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước nuôi trồng thuỷ sản
Nội dung nghiên cứu
1.
Đánh giá chất lượng nước thải trại sản xuất giống hải sản
2.
Nghiên cứu thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải từ sản xuất giống cua
xanh trên bể kính.
3.
Thực nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh trong sản xuất giống cua xanh
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Hiện trạng nhu cầu thực tiễn
Nước thải từ hoạt động sản xuất giống hải sản ở nước ta chủ yếu được thải thẳng ra ngoài
môi trường, không qua xử lý. Nước thải chứa thức ăn thừa, chất bài tiết, phân, vi khuẩn gây bệnh,
kháng sinh...làm suy giảm chất lượng nước, gây tổn hại sinh cảnh, làm suy giảm đa dạng sinh học,
nhiễm mặn đất, lan truyền bệnh, biến đổi gien của vi sinh do kháng sinh và đôi khi gây hiện tượng
phú dưỡng cho vực nước nhận [Woolard, Irvine., 1995; Dahl và ctv., 1997; Furumai và ctv., 1998;
Dincer AR và ctv., 2001].
Vì lợi ích bảo vệ môi trường nói chung và ngành sản xuất nuôi trồng thủy sản phát triển bền
vững thì việc xử lý và tái sử dụng nước thải từ các trại nuôi giống là một trong những nhu cầu cần
thiết. Tái sử dụng nước nuôi thủy sản đã được phổ biến ở nhiều nước phát triển trên thế giới [Colt J.
2006; Timmons và ctv., 2002], trong khi đó phương thức sản xuất trên chưa được áp dụng rộng rãi
tại Việt Nam.
2.2. Những vấn đề về xử nƣớc thải từ hoạt động sản xuất giống cua biển (Scylla serrata)
Tình hình sản xuất giống cua thế giới
Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cua biển được thực hiện từ những năm 1960 và dần
được hoàn thiện. Đến nay quy trình sản xuất giống nhân tạo thành công với tỷ lệ sống của ấu trùng
đạt từ 5- 10% từ giai đoạn Zoae đến cua bột.
Tình hình sản xuất giống cua Việt Nam.
Đã có nhiều công trình nghiên cu vsinh hc và sn xut ging nhân to cua bin tnhng
năm 80 của thế kỷ trước nhưng đến những năm đầu của thập kỷ 90, các tác giả như Hoàng Đức Đạt,
Đoàn Văn Đẩu, Nguyễn Cơ Thạch đã tiến hành nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản và sản
xuất giống nhân tạo cua xanh nhưng kết quả còn hạn chế. Đến nay quy trình sinh sản nhân tạo cua
biển đã bước đầu hình thành và được áp dụng rộng rãi trên cả nước.
Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến sinh trƣởng tỷ lệ sống của
ấu trùng cua.
Ấu trùng cua đòi hỏi chất lượng nước sạch, không có tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh
trùng...). Do đó xử lý nước có vai trò rất quan trọng đảm bảo cho sự phát triển ổn định của ấu trùng.
Các phương pháp đang áp dụng phổ biến hiện nay đều khẳng định nước biển khi đưa vào bể ương
1
phải được lọc xử lý tiệt trùng bằng hoá chất (Mann et al 1999b; Parado-Estepa và Quinitio năm
1998; Quinitio et al, 2001; Williams et al, 1998;. Williams et al , 1999b;). Một số nghiên cứu cho
biết cần thiết tái sử dụng nước tuần hoàn thông qua lọc sinh học, có cấy vi khuẩn nitrat (Baylon và
Failaman năm 1999; Williams et al, 2002), duy trì sự ổn định chất lượng nước, hạn chế sốc môi
trường sẽ gia tăng tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng cua (Mann et al, 1999b và Parado-Estepa
Quinitio, 1998).
Để duy trì chất lượng nước sạch và đảm bảo ổn định tránh biến động lớn, phương pháp sử
dụng nước tuần hoàn tái sử dụng nước thải đã và đang mang lại hiệu quả cao trong sản xuất giống
hải sản. Chế phẩm sinh học có hiệu quả cao trong việc xử lý chất thải hữu cơ, duy trì sự ổn định của
môi trường nuôi. Hiện có xu hướng dùng vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản để khống chế dịch
bệnh, cải thiện chất lượng nước đã được áp dụng phổ biến trên thế giới mang lại kết quả khả quan.
Sử dụng chế phẩm sinh học là việc áp dụng công nghệ sinh học giúp nâng cao và đảm bảo
sản lượng như phương thức phòng bệnh tốt hơn, rẻ hơn và hiệu quả hơn so với việc sử dụng các
kháng sinh. Các sản phẩm sinh học hoạt động như một phần trong tổng thể quản lý hoạt động sản
xuất giống và nuôi thương phẩm bền vững nhằm chống lại nguồn gây bệnh trong qui trình nuôi.
PHẦN III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng, phạm vi, thời gian địa điểm nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu.
- Nước thải từ trại sản xuất giống nhân tạo cua biển (Scylla serata).
- Chế phẩm sinh học: chế phẩm Lymnozym
Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại Trạm nghiên cứu thuỷ sản nước lợ - Trung tâm Quốc gia
giống Hải sản miền Bắc trong hệ thống sản xuất giống nhân tạo cua xanh.
Địa điểm nghiên cứu:
Trạm nghiên cứu Thủy sản Nước lợ Hải Thành – Dương Kinh – Hải Phòng.
Thời gian nghiên cứu : Tháng 5/2011 đến 10/2011.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
Đánh giá chất lƣợng nƣớc thải từ các trại sản xuất giống hải sản:
Thông qua thu mẫu nước thải từ các trại sản xuất giống hải sản khu vực Hải Phòng, tiến
hành phân tích các thông số môi trường để đánh giá chất lượng nước thải.
2