Tại sao chúng ta mua?

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 1 | Lần xem: 41 | Page: 7 | FileSize: 0.00 M | File type: PDF
Tại sao chúng ta mua?. Nghiên cứu này giới thiệu một lý thuyết giải thích tại sao người tiêu dùng đã thực hiện lựa chọn mua của mình. Lý thuyết nhận diện 5 giá trị tiêu dùng tác động đến hành vi chọn lựa của khách hàng, nó được minh họa gắn với những sự lựa chọn liên quan đến thuốc lá bao gồm lựa chọn mua hay không mua thuốc lá.
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
41 lần xem

Tại sao chúng ta mua?. Nghiên cứu này giới thiệu một lý thuyết giải thích tại sao người tiêu dùng đã thực hiện lựa chọn mua của mình. Lý thuyết nhận diện 5 giá trị tiêu dùng tác động đến hành vi chọn lựa của khách hàng, nó được minh họa gắn với những sự lựa chọn liên quan đến thuốc lábao gồm lựa chọn mua hay không mua thuốc lá..

Nội dung

Nghiên cứu & Trao đổi Biên dịch từ nghiên cứu “Why we buy What we buy: A Theory of Consumption Values” của các tác giả Jagdish N. Sheth; Bruce I. Newman; Barbara L. Gross. Bài đăng trên Journal of Bussiness Research số 22 (trang 159-170) ghiên cứu này giới thiệumộtlýthuyếtgiải thích tại sao người tiêu dùng đã thực hiện lựa chọn mua của mình. Lý thuyết nhận diện 5 giá trị tiêu dùng tác động đến hành vi chọn lựa của khách hàng, nó được minh họa gắn với những sự lựa chọn liên quan đến thuốc lá hàngmuahoặckhôngmua(haysử dụng hoặc không sử dụng một sản phẩm cụ thể), tại sao khách hàng chọn một sản phẩm trong số các sản phẩm, và tại sao khách hàng chọn một nhãn hiệu trong số các nhãn hiệu. Lý thuyết này được áp dụng cho rất nhiều loại hình sản phẩm (từ những sản phẩm lâu bền, không lâu bền, đến hàng hoá công nghiệp, và dịch vụ). Mô tả lý thuyết Ba vấn đề nền tảng của lý thuyết 1. Sự lựa chọn của khách hàng là một hàm của nhiều giá trị tiêu năng,giátrịxãhội,giátrịcảmxúc, giá trị tri thức và giá trị có điều kiện. Một quyết định có thể chịu tác động bởi bất kỳ một hoặc cả 5 giá trị tiêu dùng này. Những ngành khoa học khác nhau (như kinh tế học, xã hội học, một số ngành tâm lý học, marketing và hành vi người tiêu dùng) đã đóng góp lý luận và nghiêncứuthíchhợpvềnhững giá trị này. Mỗi giá trị tiêu dùng trong lý thuyết phù hợp với những thành phần khác nhau của những mô hình được phát triển bởi Maslow (1943, 1954, 1970), Katona (1953,1971), Kart(1960)vàHanna(1980). bao gồm lựa chọn mua hay không Giá trị chức năng của một mua thuốc lá (tức là sử dụng hoặc không sử dụng thuốc lá), lựa chọn một loại thuốc lá trong nhiều loại thuốc, lựa chọn một nhãn hiệu thuốclátrongnhiềunhãnhiệu. Lý thuyết này có thể được dùng để dự đoán, mô tả và giải thích hành vi tiêu dùng. Giới thiệu Lý thuyết tập trung vào giá trị tiêu dùng, giải thích tại sao khách dùng. 2.Giátrịtiêudùngtạoranhững đónggópkhácnhauchotìnhhuống lựa chọn nhất định. 3. Các giá trị tiêu dùng độc lập với nhau. Nhiều giá trị Như Hình 1 thể hiện, lý thuyết nhận diện 5 giá trị tiêu dùng tác động đến hành vi lựa chọn của khách hàng. Đó là: giá trị chức phương án lựa chọn được định nghĩa như: Độ hữu dụng đạt được từ lợi ích thực dụng, thiết thực hay hiệu quả vật chất của các phương án lựa chọn. Một phương án lựa chọn cung cấp giá trị chức năng thông qua những thuộc tính chức năng nổi bật nhất, những thuộc tính thiết thực nhất. Giá trị chức năng được đo lường trên một tập cácthuộctínhliênquantớiphương án đã chọn. Hình 1 Năm giá trị ảnh hưởng đến lựa chọn của người tiêu dùng Giá trị chức năng Giá trị điều kiện Giá trị xã hội HÀNH VI LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Giá trị cảm xúc Giá trị tri thức 62 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 1 (11) - Tháng 11/2011 Nghiên cứu & Trao đổi Lâunay,giátrịchứcnăngđược xem như lực dẫn dắt chính sự lựa chọncủakháchhàng.Giảđịnhnày đặtcơsởtrênthuyếthữudụngkinh tế mà Marshall(1890) và Stigler (1950) đã phát triển, và được sử dụngrộngrãi dướithuậtngữ“con người kinh tế có lý lẽ”. Giá trị chức sản phẩm giải trí.) thường bị ảnh hưởngbởicácgiátrịxãhội.Vídụ, việc chọn xe máy do hình ảnh xã hội tác động nhiều hơn là hiệu quả chứcnăngcủanó. Cho tới nay khái niệm giá trị xã hội của chúng ta vẫn chịu ảnh hưởng của những lý thuyết và Giátrịcảmxúcđượcđịnhnghĩa là: độ hữu dụng đạt được từ khả năng của các phương án gợi nên những cảm giác hoặc là trạng thái xúc cảm. Một phương án lựa chọn đem lại giá trị cảm xúc khi nó gây ra các cảm xúc rõ rệt hoặc khi nó kéo theo hoặc duy trì những cảm năng có thể xuất phát từ các đặc nghiên cứu của các lĩnh vực liên giác này. Giá trị cảm xúc được đo điểm và thuộc tính (Ferbe, 1955) nhưđộtincậy,độbềnvàgiácả.Ví dụ như quyết định mua một chiếc xe môtô có thể phụ thuộc vào mức tiếtkiệmnhiênliệuhaychếđộbảo trì xe. Giá trị xã hội được định nghĩa như sau: Độ hữu dụng đạt được từ sự liên quan của các phương án lựa chọn với một hay nhiều nhóm đặc biệt trong xã hội. Một phương án lựa chọn đem lại giá trị xã hội qua mối liên hệ với các nhóm nhân khẩu học, nhóm kinh tế - xã hội, nhóm dân tộc thiểu số đồng thuận hoặc đối nghịch. Giá trị xã hội được đo lường dựa trên tập các hình tượng liên quan tới phương án đã chọn. Cácsảnphẩmdùngbềngoài(ví dụ: quần áo, trang sức..) hay hàng hóa hoặc dịch vụ mà liên quan giữa nhiều người (quà tặng, các quan. Một số trong các nghiên cứu nổi trội hơn cả là các tác phẩm về tầng lớp xã hội do Warner và Lunt thực hiện (1941). Các sản phẩm được biết là có các giá trị tiêu dùng dễ nhận thấy hoặc có tính biểu tượng vượt quá chức năng sử dụng của nó (Veblen, 1899). Hyman (1942) đi tiên phong trong nghiên cứu các nhóm tham khảo, đưa ra giả thiết là hành vi cá nhân bị ảnh hưởng bởi mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm. Cuối cùng là nghiên cứu trong lĩnh vực lãnh đạo quan điểm và truyền bá cách tân do Roger (1962) và Robertson (1967) thực hiện cũng đã thể hiện tầm quan trọng của các giá trị xã hội trong lựa chọn của người tiêu dùng như kết quả của sự giao tiếp giữa các cá nhân và sự phổ biến thông tin. lườngdựatrêntậpcáccảmxúcliên quan tới phương án đã chọn. Hàng hóa và dịch vụ thường liên quan tới các phản hồi về cảm xúc (ví dụ: sự lãng mạn gợi nên do ánh nến tại bàn ăn tối, hoặc sự sợ hãi khi xem một phim kinh dị). Các giá trị cảm xúc thường kết hợp với các phương án lựa chọn thuộc về tinh thần (ví dụ: tín ngưỡng), tuy nhiênnhiềusảnphẩmhữuhìnhvẫn có giá trị cảm xúc. Ví dụ, một vài loại thức ăn tạo nên cảm giác thoải mái qua mối liên hệ của chúng với các kỷ niệm thời thơ ấu, hoặc nhiều người vẫn thường nói rằng họ“phảilòng”chiếcxecủamình. Các giá trị cảm xúc chịu ảnh hưởng của những lý thuyết và nghiên cứu trong những lĩnh vực phù hợp. Nghiên cứu về động cơ do Ditch (1947) tiến hành đã phát Số 1 (11) - Tháng 11/2011 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 63 Nghiên cứu & Trao đổi triển quan điểm là sự lựa chọn của người tiêu dùng được dẫn dắt bởi những động lực vô thức. Nghiên cứu trong lãnh vực quảng cáo cho thấymarketingvàcácbiếnxúctiến hỗnhợptrongngànhquảngcáogợi nênnhữngphảnhồicảmxúccóthể áp dụng cho sản phẩm được bán đượcRogersvàShoemaker(1971) phát triển và được Hirschman bàn luận rõ (1980). Giá trị điều kiện được định nghĩa như: độ hữu dụng nhận từ 1 phương án lựa chọn do tình huống đặt biệt hoặc 1 tập các điều kiện đặt ra trước người lựa chọn phương Sheth,1974; Park, 1976; Bearden và Woodside, 1977). Những đóng góp khác Năm giá trị tiêu dùng đã định nghĩa ở trên đã tạo ra những đóng góp khác nhau vào các bối cảnh lựa chọn cụ thể. Ví dụ, một người tiêu dùngchọnmuavàngnhưmộtcách (Martineau,1958, Zajonc, 1968, án. Một phương án đạt được giá trị chốnglạmphát(giátrịchứcnăng), Kotlet, 1974, Holbrook, 1983, Park vàYoung, 1986). Giá trị tri thức của 1 phương án lựa chọn được định nghĩa như: độ hữu dụng đạt được từ khả năng của các phương án tạo ra sự tò mò, cung cấp tính mới lạ và thỏa mãn một mong muốnhiểubiết. Những kinh nghiệm hoàn toàn mới rõ ràng đem lại giá trị tri thức. Tuy nhiên một phương án đem lại 1thayđổiđơngiảnvềnhịpđộcũng có giá tri tri thức. Một phương án cóthểđượcchọndongườisửdụng cảmthấychánhoặcngánnhãnhiệu họ đang dùng (như thử 1 hiệu cafe mới),cảmthấytòmò(đếnmộtcâu lạc bộ đêm mới), hoặc có mong muốn học hỏi (như trải nghiệm 1 nền văn hóa khác). Hiểu biết của chúng ta về giá trị tri thức chịu ảnh hưởng của lý thuyết và những lãnh vực nghiên cứu quan trọng khác. Những động lực khám phá, tìm kiếm sự mới lạ và tìm kiếm sự thay đổi đã kích hoạt việc tìm kiếm hàng hóa, thử nghiệm và thay đổi hành vi (Kart vàLazasfeld,1955,HowardvàShet 1969, Hansen, 1972, Hirschman, 1980). Một trong những người đã có đóng góp lớn nhất cho việc nghiêncứusựkíchthíchvàsựkhơi gợi là Berlyne (1960, 1970), ông phát biểu rằng các cá nhân được dẫndắtđểduytrìkíchthíchởmức trung bình hoặc tối ưu. Cuối cùng là tính đổi mới, khuynh hướng chọn sản phẩm mới của người sử dụng điều kiện khi có sự xuất hiện của những sự kiện xã hội hoặc sự kiện vật lý tiền lệ mà thúc đẩy giá trị xã hội hoặc giá trị chức năng của nó. Độ hữu dụng của một phương án thường phụ thuộc vào một tình huống cụ thể. Ví dụ, một vài sản phẩm có giá trị sử dụng theo mùa (thiệp Giáng sinh), một số được dùng trong các sự kiện “trăm năm mới có một lần” (áo cưới), một số khác trong các tình huống đặt biệt (dịchvụcấpcứu).Nhiềusảnphẩm có giá trị điều kiện khó nhận thấy hơn (như bắp rang tại rạp xinê). Giá trị điều kiện cũng chịu ảnh hưởng của nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Dựa trên thuyết động lực kích thích của Hull (1963), Howard (1969) nhận thấy tầm quan trọng của sự học hỏi mà là kết quả kinh nghiệm của một tình huống cụ thể. Howard và Sheth (1969) đã phát triển nghiên cứu trước đó của Howard qua định nghĩa sự ức chế như những áp lực không thể tiếp nhận đã ngăn trở ý thích người mua.Kháiniệmsựứcchếcònđược Sheth phát triển rõ hơn trong mô hình mối liên hệ quan điểm – hành vi dưới dạng những tình huống biết trước và những sự kiện không trông đợi. Nhận thấy rằng không thể đoán trước chính xác hành vi mà chỉ dựa trên quan điểm hoặc ý định, nên một số các nhà nghiên cứu suốt thập niên 70 đã xem xét các khả năng đoán trước của nhân tố tình huống (Belk, 1973,1974; thì cũng nhận thấy một cảm giác an toàn từ sự đầu tư này (giá trị cảm xúc). Giá trị xã hội, tri thức, điều kiện ít có ảnh hưởng trong tình huống này. Ngược lại, cũng người tiêu dùng đó mua 1 vòng đeo tay bằngvàngvìnóđượcmộtnhânvật mà cô ấy hâm mộ yêu thích (giá trị xã hội) thì bốn giá trị còn lại ít có ảnh hưởng. Trên một mặt hàng, một nhãn hiệu, một loại sản phẩm thì lựa chọn “mua hoặc không mua” có thể được quyết định bởi những giá trị tiêu dùng hoàn toàn khác nhau. Lý thuyết đã được chỉ ra ở đây đã được chi tiết hóa sao cho chúng ta có thể xác định qua nghiên cứu thực tế là trong mỗi bối cảnh lựa chọn cụ thể thì loại giá trị nào thúc đẩy mạnh hiệu quả marketing. Sự độc lập giữa các giá trị Các giá trị định nghĩa trong lý thuyết trên là độc lập, có liên hệ và đóng góp thêm vào cho lựa chọn. Việc cực đại hóa cả 5 giá trị này là không thực tế, và người sử dụng thường có ý chấp nhận giảm bớt một giá trị này để đạt được nhiều hơn tại một giá trị khác (đánh đổi giữa những giá trị ít quan trọng và những giá trị quan trọng hơn). Dĩ nhiên là một lựa chọn cũng có thể chịu tác động tích cực từ cả 5 giá trị, ví dụ, đối với người mua nhà lần đầu, việc mua nhà có thể đem lại giá trị chức năng (chỗ ở rộng rãi hơn căn hộ hiện tại), giá trị xã hội (những người bạn anh 64 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 1 (11) - Tháng 11/2011 Nghiên cứu & Trao đổi ta cũng có nhà), giá trị cảm xúc (người sử dụng cảm thấy yên ổn khi sở hữu một căn nhà), giá trị tri thức (sự mới lạ khi mua nhà đem lại niềm vui thích) và giá trị điều kiện (lập gia đình). Ứng dụng của lý thuyết Lý thuyết đã phácthảotrênđây được chi tiết hoá và kiểm định với hơn 200 tình huống lựa chọn của người tiêu dùng. Ví dụ, lý thuyết này được áp dụng cho lựa chọn “sử dụng hay không sử dụng” các loạithựcphẩm,thuốclá,phiênbản máy vi tính; cho lựa chọn các sản phẩm liên quan đến xe cộ (ví dụ xe thể thao hoặc xe sang trọng); áp dụng cho lựa chọn loại nhãn hiệu bao gồm kem đánh răng, thuốc cảm hay xe hơi. Khi thao tác hóa lý thuyết, nhómnghiêncứuđãpháttriểnmột bảng câu hỏi chuẩn chung nhất; và một thủ tục chuẩn điều chỉnh định dạng cho những tình huống cụ thể liên quan với mỗi loại lựa chọnriêng.Vìthế,khilàmphépđo là bạn cụ thể lựa chọn hay cụ thể ứngdụng.Nhữngcâuhỏicụthểsẽ thay đổi theo tình huống lựa chọn. Ví dụ quyết định mua hay không mua một căn nhà kéo theo một tập những cân nhắc khác nhau như so sánh giữa một căn nhà chung cư với căn hộ riêng biệt (quyết định về loại sản phẩm) Quy trình xây dựng bảng câu hỏi bắt đầu với những thông tin sơ bộ từ một nhóm nhỏ khách hàng được chọn mẫu từ tổng thể quan tâm. Tốt nhất là tiến hành phỏng vấn theo nhóm với những câu được hỏi có liên quan một cách phù hợp với mỗi giá trị trong nhóm 5 giá trị tiêu dùng. Khi kết quả phỏng vấn nhóm đã được tổng hợp, chúng ta phải biến đổi nó thành bảng câu hỏi phù hợp. Bản tốc ký của buổi phỏng vấn nhóm có thể được phân tích, nhận diện những câu trả lời phản ánh các mối quan tâm hàng đầu của người được hỏi. Ngoài ra những câu hỏi liên quan đến mỗi loại giá trị (thể hiện phản ứng của người trả lời) rất cần cho mục đích phân loại (trong phân tích biệt số). Khibảngcâuhỏiđãhoànthành thì ta sẽ chọn một mẫu lớn có tính đại diện để tiến hành khảo sát lấy dữ liệu. Phương pháp chọn mẫu nào sẽ áp dụng ở đây tùy thuộc vào bản chất của vấn đề nghiên cứu, Bảng 1: Sử dụng hay không sử dụng – người hút thuốc hay người không hút thuốc Kết quả phân tích biệt số từng bước Các biến (mô tả các Nhân tố) Hệ số Trung bình trên người trả lời Hút (n= 65) Không hút (n=80) Giá trị cảm xúc (băn khoăn, bức bối khi không hút; thỏa mãn, gợi cảm khi hút thuốc) Giá trị cảm xúc (tự tin, minh mẫn, an toàn khi không hút thuốc) Giá trị điều kiện (sức khỏe bản thân, áp lực từ người yêu, đe dọa thể chất, sức khỏe con cái) Giá trị xã hội (người thấy bấp bênh, người có cha mẹ hút thuốc) Giá trị chức năng (gây bệnh tim và phổi, làm phiền người khác) Giá trị chức năng (giải tỏa căng thẳng, giúp dễ giao tiếp, thư giãn) Giá trị tri thức (xem quảng cáo, chi phí giảm, tò mò) Eigenvalue 0,73 0,60 -0,72 -0,60 0,37 0,61 -0,19 -0,36 -0,18 -0,29 0,17 0,43 -0,13 0,01 1,38 Wilk’s Chi-Lambda Squared -0,43 0,48 -0,40 0,23 0,17 -0,39 -0,02 Theo nhóm -1,12 df Sig. Mô hình từng bước 1,56 Mô hình toàn bộ 1,60 0,39 131,35 7 0,000 0,38 130,50 13 0,000 Số 1 (11) - Tháng 11/2011 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 65 Nghiên cứu & Trao đổi mức độ suy diễn cần thiết của cuộc nghiên cứu, và giới hạn của ngân sáchnghiêncứu.Quátrìnhthaotác hóa lý thuyết này đòi hỏi dữ liệu phải được thu thập từ cả người có sử dụng và không sử dụng cho nghiêncứu“muahaykhôngmua”, từ cả người sử dụng nhãn hiệu cạnh tranh trong nghiên cứu về lựa chọn nhãn hiệu, và từ cả người sử dụng sản phẩm cạnh tranh trong nghiên cứu về lựa chọn loại sản phẩm. Lý thuyết này có thể được áp dụng với nhiều phương pháp khảo sát như: phỏng vấn qua thư, qua điện thoại và phỏng vấn cá nhân (cả dạng tự quản lẫn mặt đối mặt). người dùng sản phẩm A/ người dùng sản phẩm B, người dùng nhãnhiệuA/ngườidùngnhãnhiệu B. Trong ứng dụng lý thuyết, mục tiêu là phân biệt những nhóm đã biết trên nền tảng những giá trị tiêu dùng dẫn dắt sự lựa chọn. Những biến độc lập đầu vào của phân tích biệt số được rút ra từ phân tích nhân tố. Phân tích nhân tố giúp nhận ra nhữngkhíacạnhgiátrịcơbảntheo cảm nhận của người trả lời. Đoạn theo sau mô tả ba ví dụ minh họa cơ bản, tất cả đều có liên quan đến hút thuốc lá. Ví dụ đầu tiên liên quan với lựa chọn hút hay không hút thuốc (quyết định dùng được khảo sát. Ví dụ thứ ba liên quan đến sự lựa chọn nhãn hiệu. Những giá trị tiêu dùng phân biệt người chọn hút thuốc Marlboro và Virginia Slims được khảo sát. Vì thuốc lá là loại sản phẩm rất quen thuộc, người đọc có thể đánh giá được giá trị khám phá của nghiên cứu này bằng cách so sánh chúng với trực giác và giá trị lựa chọn của chính họ. Sử dụng hay không sử dụng – ngườihútthuốchayngườikhông hút thuốc Kết quả phân tích biệt số áp dụngchongườikhônghútthuốcvà có hút thuốc được tóm tắt ở Bảng Dữ liệu thu thập được sau đó hay không dùng). Những giá trị 1.Mườibanhântốđượctríchratừ được sử dụng trong phương pháp phân tích biệt số. Phương pháp biệt số rất phù hợp cho tình huống này vì quá trình được bắt đầu với hai hoặc hơn hai nhóm đã biết là: người dùng/ người không dùng; tiêu dùng phân biệt người hút và người không hút thuốc được khảo sát.Vídụthứhailiênquanđếnlựa chọn loại sản phẩm. Những giá trị tiêu dùng phân biệt giữa người hút thuốc đầu lọc và không có đầu lọc phân tích nhân tố và bảy được giữ lại trong vai trò biến độc lập qua thủtụcphântíchbiệtsốtừngbước. Nhưđãthấy,giátrịcảmxúccóvai tròquantrọngnhấttrongviệcphân biệt người hút thuốc với người Bảng 2: Loại sản phẩm – có đầu lọc và không có đầu lọc Kết quả phân tích biệt số từng bước Các biến (mô tả các Nhân tố) Hệ số Trung bình trên người trả lời Đầu lọc (n= 63) Không đầu lọc (n=29) Giá trị chức năng (ngăn sợi thuốc lá vào trong miệng, đem lại cảm giác dễ chịu, ngăn điếu thuốc dính vào môi, làm giảm lượng nicotin và nhựa thuốc hấp thụ vào cơ thể) Giá trị xã hội (phụ nữ trẻ, vận động viên, người mới bắt đầu hút thuốc, thanh niên, và người quan tâm đến sức khỏe) Giá trị tri thức (muốn biết nó như thế nào, tò mò) Giá trị tri thức (bạn bè hút chúng, được giới thiệu bởi bạn bè) Giá trị chức năng (nguy hiểm cho sức khỏe, làm vàng răng) Giátrịchứcnăng(hươngvịthuốcđậmđà,cảmnhậnthậtnhất về điếu thuốc) Giátrịxãhội(tàixếxetải,namgiớilaođộng,ngườiuốngbia, nam làm việc ngoài trời) Giá trị chức năng (viêm họng, vàng ngón tay, giúp ăn ít đi) Eigenvalue 0,65 0,59 -0,28 0,24 0,24 -0,21 -0,21 -0,19 Wilk’s Lambda 0,50 0,47 -0,12 0,17 0,08 -0,19 -0,21 -0,16 0,87 Chi-Squared -0,99 -0,95 0,23 -0,11 -0,02 0,24 0,28