Giấy phép của giáo sư Ohsawa (Xem phần dịch ở hình sau) LỜI GIỚI THIỆU Ông bà Ando người Nhật – đệ tử của ông bà Ohsawa, đã gửi cho chúng tôi những quyển sách quí của tiên sinh Ohsawa bằng tiếng Nhật Bản và mong ước chia sẻ tư tưởng của tiên sinh cho người Việt Nam, một dân tộc có khả năng thâm nhập ý nghĩa sâu xa nhất của tư tưởng cực đông… theo đà đó, chúng tôi xin phép ông Ngô Ánh Tuyết, là con trai ông bà Ngô Thành Nhân (đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh) đồng thời là truyền nhân của phương pháp Thực dưỡng tại Việt Nam, ông Tuyết đã đồng ý cho nhóm gạo lứt Hà Nội tham gia dịch và xuất bản các sách của tiên sinh; đây là điều kỳ diệu tuyệt vời của ngành Thực dưỡng nước nhà. Sau đây là nội dung tin nhắn trả lời của ông Tuyết đồng ý cho phép tham gia dịch và xuất bản sách tiếng Nhật của tiên sinh Ohsawa, những tác phẩm chưa từng được biết tới ở Việt Nam: Trăng trời muôn thuở soi chung Nước yên: sáng rạng, động rung: mờ nhòe. Ngô Ánh Tuyết Một loạt sách tiếng Nhật của tiên sinh Ohsawa sẽ tiếp nối ra đời đã, đang và sẽ mang lại tác động rất tốt, làm lành mạnh hóa xã hội hiện đại… khi con người một ngày chợt tỉnh ngộ tự hỏi: Ta là ai? Ta sống trên trái đất này là để làm gì? Chết đi về đâu? Làm sao ta có thể sống một cuộc đời có được sự tự do vô biên, công bằng tuyệt đối và hạnh phúc vĩnh cửu? Những điều này sẽ được sáng tỏ trong các sách của tiên sinh và nhất là những ai đang học đạo Phật hay bất cứ một môn học nào trên trái đất này. Hà Nội tháng 6/2012 Ngọc Trâm TRẬT TỰ CỦA VŨ TRỤ Vài lời nhân dịp tái bản Muroran, Ngày 15 tháng 7 năm 1958 Nyoichi Tôi đã bước sang tuổi 65. Thời gian trôi, trái đất xoay và con người tiến bước. Cuốn sách này lần đầu tiên được ra mắt năm tôi 49 tuổi và thực chất đây là tập hợp những câu chuyện mà tôi đã có cơ hội nói trong rất nhiều dịp khác nhau. Giờ đây, ở tuổi 65 nhìn lại tôi vẫn thấy như thế này là được. Tóm lại, đây là những câu chuyện mà tôi đã nói liên tục trong suốt 35 năm. Mặc dù là một tác phẩm có phần ngây ngô, non nớt nhưng đối với tôi đây quả thực là một thứ đáng trân trọng và trong suy nghĩ của tôi, có lẽ đây là cuốn sách quan trọng bậc nhất trong số hơn 300 ấn phẩm hay 5 vạn trang báo nguyệt san tôi đã đăng trong 30 năm qua. Và ngay cả lúc này đây, bằng cách này hay cách khác, tôi vẫn đang tiếp tục nói những câu chuyện này (5 năm qua tôi nói bằng tiếng Pháp, tiếng Anh). Trong 5 năm trở lại đây, tôi đã liên tục giảng bài, thuyết trình tại Ấn Độ, Châu Phi và Châu Âu. Và tôi đã nhận được những niềm vui vô bờ, những niềm vui có giá trị còn hơn cả khi nhận giải Nobel hàng trăm nghìn lần. Tại Ấn Độ, Châu Phi và các nước Châu Âu, tôi đã tìm thấy hàng vạn người thân, những người bạn tốt bụng, thân thiết hơn cả tình cha mẹ anh em. Tôi có thể tự do tự tại ngao du khắp thế giới mà hoàn toàn không phải bận tâm tới chuyện tiền bạc. Trong 5 năm qua, đặc biệt là 2 năm cuối, tháng nào cũng phải sử dụng một khoản trung bình hơn 300.000 Yên tiền du lịch. Tại những đất nước Thụy Sỹ, Bỉ, Đức, và Châu Phi tươi đẹp, đi đến đâu tôi cũng có thể thoải mái vui chơi thỏa thích mà không phải trả tiền khách sạn, ở đâu tôi cũng nhận được sự tiếp đón chu đáo, chân thành của những người bạn thân. Đặc biệt, tôi đã được thành phố Paris trao tặng Giải thưởng cống hiến, đã xuất bản được hơn chục đầu sách bằng tiếng Pháp, tiếng Đức tại Châu Âu, và hàng tháng đều có bài viết được đăng trên nguyệt san tại Paris. Đó tất cả là vì tôi đi để nói về những câu chuyện giống như trong cuốn sách này. Lần này, tôi về Nhật Bản lần đầu tiên sau 5 năm (dự kiến dài nhất là 2 tháng) là vì bản báo cáo 5 năm lần thứ nhất về “Chuyến đi của một hành giả vòng quanh thế giới” trong 5 năm qua. Thấm thoát đã gần 3 tháng rồi. Phải quay về thôi! Tôi sẽ rời Nhật Bản vì hàng vạn con người thân yêu tại hải ngoại, những người luôn yêu quý, thương nhớ chúng tôi từ tận đáy lòng như yêu thương chính cha mẹ, anh em vậy. Nói thật, lần này tôi cất công, lặn lội bỏ ra số tiền 5 triệu Yên để quay về Nhật Bản nhưng tôi biết mình sẽ phải rời nơi đây với chút thất vọng phủ kín tâm hồn. Bởi lẽ tôi không chịu được khi phải chứng kiến những bóng hình khốn khổ, tủi nhục, đáng hổ thẹn của 8 triệu con người đang chen lấn tranh giành, theo đuổi toàn những thứ hèn hạ, bần tiện trong khi không biết đến cũng như không đủ năng lực lý giải về “Trật tự của vũ trụ” (Thế giới thần thánh và ý nghĩa của nó). Thế nhưng, trong số đó cũng có 2, 3 người mới đã hiểu được dù chỉ là chút ít về trật tự của vũ trụ, về tầm quan trọng của nó cũng như về bí mật của thức ăn tạo ra năng lực phán đoán tối cao. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng giúp tôi thấy an ủi phần nào. Nhưng cũng chỉ ở mức độ những người bạn cũ tất cả đều đang khỏe mạnh nhờ ăn uống đúng cách chứ chưa có một ai chứng tỏ được rằng mình nắm vững trật tự của vũ trụ, hiểu được quy luật vàng của câu nói “Người không vui chơi thì đừng có ăn” và sống một cuộc sống vui vẻ, tự do. Bà Haruko Iwasaki, Hiệu trưởng trường dạy may trang phục phụ nữ Yokohama, người đã hoàn thành tòa nhà Trung tâm phụ nữ (Ladies Center) trị giá 100 triệu Yên ngay tại phía trước nhà ga Yokohama đã nói với tôi rằng “Nhờ sinh hoạt ăn uống đúng cách theo trật tự của vũ trụ trong vòng 7 năm mà tôi có thể làm được điều này.” Bà Iwasaki còn nói là sắp tới sẽ cho xây dựng một tòa nhà trị giá 800 triệu Yên và sang năm sẽ tới Pari. Mục đích của chuyến đi này nghe nói là để thay đổi tư tưởng “Mốt là từ Pari” trở thành “Mốt của Pari là do bàn tay người Nhật Bản”. Tôi vui sướng lắm! Bà Iwasaki vốn không phải là người hay trò chuyện thân mật với tôi, cũng không phải là người chơi với tôi từ lâu. Bà chỉ là người đã tự mình thực hiện “sinh hoạt ăn uống đúng cách” theo cách riêng của bà mà thôi. Khi tôi thuyết trình tại thành phố Yamaguchi thì có chừng 5 người ở độ tuổi từ 81 đến 85 tham dự. Họ nói “Tôi đã được chữa khỏi bệnh tim cách đây 30 năm”, “Tôi đã được chữa khỏi bệnh loét dạ dày cách đây 38 năm” và họ chính là những nhân chứng sống cho những niềm vui có được nhờ vào chỉ chừng 1/10000 trong vô số những ứng dụng của nguyên lý vô song về “Trật tự của vũ trụ”. Hôm qua, nhận lời mời của thầy Gitou Teruo tại hội quán đại học Trung ương, tôi đã có cơ hội tới nói chuyện với khoảng 40 nhà y học, dược học hàng đầu, những người sắp có chuyến thị sát tại Ấn Độ, Châu Phi. Nội dung xoay quanh những phương pháp để không bị bệnh tại nơi họ sẽ đến hay những điều cần thiết để hoàn thành mục đích chuyến đi… Đối với tôi, đây là một thử thách khó khăn và cũng là vinh dự đầu tiên tại Nhật Bản. Lòng tốt của thầy Teruo, người đã chú ý đến sự tồn tại của tôi từ hơn 20 năm trước đã kết trái thành cơ hội tuyệt vời này. Và thật sự ngoài dự đoán, buổi trò chuyện kéo dài từ 2 giờ tới 7 giờ này cuối cùng đã cho thấy một dấu hiệu rằng dưới bàn tay của các chuyên gia chói sáng của giới y học phương Tây này, lần đầu tiên, Y học Đông Dương – nền y học vốn có lịch sử 5000 năm nhưng đã bị chôn vùi bằng một bản pháp lệnh năm Minh Trị thứ 17 – lại được nhắc đến và một công trình nghiên cứu có tính sáng tạo, toàn diện sẽ được khởi động một cách nghiêm túc và chắc chắn. Thời gian trôi, trái đất xoay và con người tiến bước. Một thời đại mới đang bắt đầu. Với hai câu chuyện như hai món quà lưu niệm này, tôi cảm thấy rất mãn nguyện và giờ là lúc tôi nên rời Nhật Bản. Bởi lẽ tuy hai món quà này có vẻ hơi khiêm tốn so với chuyến đi trị giá 5 triệu Yên nhưng khi ta tham lam chính là lúc ta đã quên mất trật tự của vũ trụ. Các bạn ơi! Những người bạn mới của tôi ơi! Tôi đang tìm các bạn. Tôi mong chờ một lúc nào đó được gặp gỡ các bạn tại một nơi nào đó trên cái sân khấu ngày càng trở nên nhỏ bé mà người ta gọi là trái đất này. Vì trong vũ trụ vô hạn, con người luôn luôn là một (Nhất Thể Đồng Tâm) nên tôi sẽ vẫn chờ đợi. Sự nhẫn nại chính là “sự vĩnh hằng”, là thượng đế. Hôm qua, tôi đã có buổi nói chuyện tại Hội trường lao động ở khu phố nhà máy của thành phố Muroran. Hôm nay tôi sẽ thuyết trình tại Sapporo, ngày mai là Hakodate, ngày kia là Morioka, ngày sau đó tôi sẽ tới Ueno và trong những ngày sau đó nữa tôi lại đi tới các vùng Kyoto, Osaka, đến ngày 6 tháng 10 tôi sẽ có mặt tại thành phố Calcutta, Ấn Ðộ để nói chuyện với 200 người Nhật Bản và hàng nghìn người Ấn Độ nơi đây. Hai, ba ngày sau đó, tôi sẽ đặt chân tới sân bay Franfurt cách xa 1000km về phía Tây, sẽ được mọi người chào đón và đưa bằng xe hơi về nghỉ ngơi tại dinh thự riêng tại cố đô Heidelberg. Tại đó, tôi sẽ lên kế hoạch tác chiến cho chuyến đi đại thám hiểm 5 năm lần thứ hai. Phạm vi chuyến đi đã mở rộng tới mức với một thân một mình thì không thể thực hiện được. Các bạn hãy nhanh chân lên, tham gia cùng tôi nào! Nhanh chân lên! Nhanh chân lên! Nhanh lên! Giờ là thời đại của năng lượng nguyên tử. Rồi thì các bạn cũng sẽ bị sát hại bởi chất xtrông-ti 90! Không, các bạn đang bị sát hại hàng ngày, từng ngày, dần dần từng chút từng chút một. Tại “Quán ăn vô song kiểu Pháp dòng Sakukrazawa” thứ ba ở Paris, với sự đơn giản và duyên dáng riêng của Nhật Bản, chúng tôi đã thu hút được sự chú ý của nhiều người và sẽ có thể tiếp nhận tất cả những ai tới học tập, tìm hiểu về văn hóa Latinh châu Âu. Làn sóng bùng nổ Nhật Bản chưa từng có trong lịch sử đang bao phủ toàn châu Âu. Vai trò đứng đầu làn sóng bùng nổ đó và chiếu rọi “ánh sáng phương Đông” đang mời gọi các bạn! Hãy lần giở và đọc lại những trang sách trong hai cuốn “Câu chuyện về những chuyến bay ngắn (Flip Tales)” và “Những chàng trai huyền thoại”. Tái bút Đêm mùng 9 vừa qua, một cô gái người Đức mắt xanh (không biết cả tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Nhật) đã vượt qua Bắc Cực, một mình lặn lội từ Hamburg tới tìm tôi. Cô gái đó có tên là Myunstar. Từ hai năm trước, cô đã theo tôi học về trật tự của vũ trụ (thế giới thần thánh và ý nghĩa của nó), cô liên tục tu hành rồi truyền dạy lại cho nhiều người khác, chữa trị thành công cho nhiều người bệnh và nay đã trở thành một hướng dẫn viên chăm sóc sức khỏe có tiếng. Cô được ông Hashimoto Miyabi - một danh nhân về chẩn đoán mạch, người đã cùng tôi tới Hamburg vào tháng 5 vừa qua - khen là “Người Đức có trực giác tuyệt vời” và được mời tới để học kỹ thuật châm cứu. Ở đó có hàng trăm, hàng ngàn cô gái, chàng trai như thế. Họ tới mỗi lúc một đông. Thế nhưng, thật đáng buồn, Hội MI Nhật Bản - tổ chức trung tâm, thánh địa của tín đồ PU, nơi đáng lẽ sẽ tiếp nhận những con người này - đã bị dẹp bỏ trong lúc tôi đi vắng. Hiệp hội CI Nhật Bản lúc đó vẫn còn non yếu như nụ chồi nhỏ mỏng manh. Sau đó, hội Tân dưỡng sinh được ra đời tại Osaka và việc đầu tiên của hội là nỗ lực, chuyên tâm xây dựng bằng được một Hội quán nhưng để thực hiện được có lẽ phải mất 2, 3 năm. Cứ mỗi khi nghĩ tới nỗi thất vọng của những người cầu đạo mang trong mình bao hoài bão, nhiệt huyết, niềm vui và mơ ước lớn lao tìm tới thánh địa của Nhật Bản, tôi lại cảm thấy đôi chút buồn rầu. Những con người này đến từ rất nhiều nơi, từ Ấn Độ, từ Pháp, từ Bỉ, từ Thụy Sĩ… Liệu đến khi nào bạn sẽ trở thành người thấu hiểu trật tự của vũ trụ, cùng các chàng trai, cô gái huyền thoại trên khắp thế giới tay trong tay, vai kề vai hát vang bài ca “Người không vui chơi thì đừng có ăn”, vui chơi thỏa thích từ sáng sớm tới đêm khuya, thỏa sức rong chơi tự do khắp thế giới? Nói cách khác, khi nào bạn sẽ rũ bỏ được tư tưởng độc quyền, tính thiển cận, hẹp hỏi, thiếu hiểu biết về thế giới bên ngoài, thoát khỏi lớp vỏ bọc của chủ nghĩa vị kỷ để vươn mình bật lên thật cao và cứ thế, cứ thế nhảy nữa, nhãy mãi? Những ông già 65 tuổi, bà già 60 tuổi như chúng tôi đây suốt 5 năm trời qua đã biến thế giới thành sân khấu riêng và diễn cho các bạn xem những ví dụ tiêu biểu rồi đó các bạn có biết không? Cuốn Trật tự của Vũ trụ này là chìa khóa dẫn tới thiên đường. Nó là chiếc radar dò tìm giúp chỉ ra con đường giác ngộ đầy chông gai, hiểm nguy. Đây không phải là cuốn sách đọc bằng mắt. Hãy đọc và cảm nhận từng dòng, từng dòng bằng chính cơ thể mình. Chiếc radar này sẽ từng giờ, từng phút dẫn lối, chỉ đường cho bạn tiến lên phía trước trong nơi sâu thẳm của cánh rừng sơ khai hay trong biển sóng đang nổi cơn thịnh nộ giữa gió bão mịt mù mà được người ta đặt cho tên gọi là CUỘC ĐỜI. Chiếc radar chỉ là thứ chỉ ra giúp bạn ở mỗi bước đi của bạn đâu là tảng đá ngầm chết chóc, đâu là eo biển sâu dữ dằn. Mọi nỗ lực tránh xa những chông gai, hiểm nguy đó để một mình tiếp tục cuộc hành trình nằm ở chính ý chí và kỹ năng của bạn. Cuốn sách này có thể đọc trong một giờ. Cũng có thể đọc trong 10 năm. Bản thân tôi ít nhất trong 45 năm qua, tôi luôn đọc nó từng tháng từng ngày, từng phút từng giây. Cuốn sách này được ấn bản lần đầu vào năm 1940 tại Kyoto và sau đó đã tái bản hơn chục lần. Giờ đây, khi tái bản năm 1952, tôi đã cải chính và bổ sung khoảng hơn 3000 chữ. Với những ai lần đầu nghiên cứu về thế giới quan nguyên lý vô song thì tôi mong các bạn hãy đọc lần lượt từ cuốn “Lăng kính kỳ diệu”, tới cuốn “Nghiên cứu về nguyên lý vô song” (4000 trang) rồi tới cuốn “Kompa” (60 quyển đã xuất bản). LỜI NÓI ĐẦU Gần đây, người ta hay nhắc tới những từ Thế giới quan hay Trật tự mới. Thế nhưng, đó là gì vậy? Nói cụ thể ra thì những cái đó đề cập tới cái gì? Nó khó hiểu hay dễ hiểu? Trong thế giới tương lai, những kiến thức về cái gọi là “Thế giới quan” hay “Trật tự mới” xem ra vô cùng cần thiết. Riêng về điểm này thì tôi rất hiểu nhưng đứng trước câu hỏi vậy nó là cái gì thì dường như không ai dám chắc cả. Không, tôi có cảm giác họ thực sự chẳng hiểu gì cả. Đây chẳng phải là những cảm giác giả tạo, lừa dối của đại chúng, của những người dân bình thường hay sao? Vì vậy, tôi đã quyết định cầm bút viết và công bố cái gọi là Thế giới quan, Trật tự mới của bản thân tôi - người đã dành nhiều thời gian tìm tòi, suy nghĩ, người trong mười mấy năm qua đã mở hơn 30 buổi thuyết trình với hàng nghìn người tới tham dự, nghe và ủng hộ -với mong muốn lắng nghe ý kiến của quần chúng, tiếp nhận những lời chỉ giáo của các bậc tiền bối, tiếp thu những lời phê bình của các chính trị gia và học giả Anh quốc. Bởi lẽ đó, tôi sẽ không phản đối nếu có ai nói cuốn sách này mang đậm chất triết học non nớt. Trên thực tế, những suy nghĩ của tôi, cách nhìn nhận sự vật của tôi rất trẻ con. Tuy nhiên, tôi cho rằng những khái niệm rất khó hiểu như Thế giới quan hay Trật tự mới, hay mối liên hệ giữa Thế giới quan và Trật tự mới, hay mỗi liên hệ giữa chúng với cuộc sống hàng ngày của chúng ta đều giống nhau trên toàn thế giới và nó buộc phải là thứ dễ hiểu đối với muôn vạn con người. Nó buộc phải là thứ mà trẻ con cũng có thể hiểu được. Lý do là vì công cuộc xây dựng nền văn hóa cao nhất của toàn nhân loại đòi hỏi sự hợp lực của muôn vạn con người. Và để mọi người hợp lực với nhau thì trái tim, tâm hồn của toàn thể nhân dân phải hợp thành một. Và để muôn trái tim trở thành một thì không thể sử dụng những khái niệm, cách diễn đạt phức tạp, rối rắm theo kiểu chỉ có những học giả hay nhà chuyên môn mới hiểu được. Bởi vì “đặc trưng của chân lý là sự giản dị”. Viết tại dinh thự Kaiko của nhà Totsuka, thành phố Atami. Nyoichi Sakurazawa PHỤ KÝ Theo Dürckheim (“Tính dân tộc và Thế giới quan”) thì thế giới quan có sự khác biệt tùy vào từng xã hội, từng dân tộc nhưng tôi cho rằng nếu nói như thế thì đó không phải là thế giới quan chính thống. Bởi lẽ thế giới chỉ có một nên cho dù có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau đi chăng nữa, nếu có thứ nên gọi là nguyên lý thế giới thì có lẽ nó buộc phải là thứ độc nhất vô nhị (duy nhất vô song). Cách nhìn nhận đa dạng đó nên được gọi là thế giới luận và nó sẽ rất nhanh chóng được trừu tượng hóa và tổng hợp ở mức độ cao và sẽ vươn tới mức nguyên lý tối cao, chân lý duy nhất. Tôi muốn gọi cái đó là thế giới quan. Tuy nhiên, nếu ở tiếng nước ngoài người ta gọi cách nhìn nhận đa dạng bằng những từ như “Weltanschauung”, “World conception”, “conception du monde” và tại Nhật Bản người ta dịch chúng thành “Thế giới quan” thì tôi lại nghĩ khác. Tôi sẽ gọi khái niệm tổng hợp những khái niệm trên và tạo thành nguyên lý duy nhất, chân lý tối cao là Vũ trụ quan, hay là Nguyên lý thế giới, Nguyên lý vũ trụ, Nguyên lý thứ nhất hay Nguyên lý vô song. Thế nhưng, tôi nghĩ chữ “QUAN” là chữ mang ý nghĩa về nguyên lý chỉ đạo, về chân lý nên tôi vẫn muốn coi “Thế giới quan” là khái niệm chung của toàn thế giới diễn đạt về một nguyên lý duy nhất, một chân lý vô song. Và ở đây, tôi sẽ sử dụng nó với ý nghĩa đó. Để tham khảo, tìm hiểu thêm về Nguyên lý vô song, các bạn hãy tìm đọc một số ấn phẩm khác của tôi như: “Principe Unique de la Philosophie et de la Science d’Extrême-Orient” (Vrin, Paris, 1929) Bản dịch tiếng Nhật “Nguyên lý vô song – Dịch” (Hiệp hội CI Nhật Bản xuất bản) “Nghiên cứu về Nguyên lý vô song” (Loạt sách từ Quyển 2 tới Quyển 12) Mời các bạn đón đọc: Một loạt sách quí của tiên sinh Ohsawa lần đầu tiên được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật do dịch giả Nguyễn Cường dịch, như: 1. Con đường dẫn tới hạnh phúc và sức khỏe: nguyên tác tiếng Nhật của tiên sinh Ohsawa: NHỮNG CHÀNG TRAI HUYỀN THOẠI Chìa khóa của sự hạnh phúc gửi tặng các bạn trẻ - Thời niên thiếu của Franklin - 2. Con đường dẫn tới hạnh phúc và sức khỏe: NHỮNG CHÀNG TRAI HUYỀN THOẠI (Tiếp) Chìa khóa của sự hạnh phúc gửi tặng các bạn trẻ NHỮNG CHÀNG TRAI HUYỀN THOẠI - Thời niên thiếu của Gandhi – V.v… Ông Ando đã và sẽ gửi cho chúng ta được đọc đầy đủ các sách quí của tiên sinh Ohsawa. 1. NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ DÒNG CHẢY CỦA SỰ SỐNG Dòng chảy của sự sống này (thế gian này, cuộc đời này) không phải là một dòng sông tràn trề, nó kéo dài, trải rộng bao la không thấy bến bờ. Có rất nhiều hòn đảo, tảng đávới tên gọi “cuộc đời” trôi nổi trên dòng sông này. Có rất nhiều cuộc đời khác nhau. Dòng sông thì quá đỗi rộng lớn, không có điểm dừng. Những hòn đảo, tảng đá, đất nước trong đó thì cứ luôn bị cuốn trôi mãi mãi. Vì vậy, nếu quan sát từ vị trí của những hòn đảo hay tảng đá thì dòng sông không có vẻ gì là đang trôi cả. Nhưng thực chất nó đang trôi đi với một tốc độ khủng khiếp. Tất cả mọi thứ có trong dòng sông, sống trong dòng sông đều đang bị cuốn trôi, ngày cũng như đêm. Hầu như chưa có ai từng thử đi ngược lại dòng chảy này. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu từ gốc tới ngọn về những tảng đá, hòn đảo, cây cối trôi trên dòng sông sự sống rộng lớn này nhưng vì quá khó khăn nên lại không có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về chính dòng sông. Sau đây, chúng ta sẽ cùng thử thám hiểm nguồn gốc của dòng chảy sự sống này nhé! Trước tiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ xem sự sống trong thân xác này của chúng ta đến từ đâu… Tất nhiên, chúng ta được thừa hưởng từ cha mẹ, tổ tiên mình nhưng tại sao kể cả cha mẹ ta, tổ tiên ta hay chính chúng ta lại có được thân xác này, tại sao lại tiếp nhận hiện thân này? Điều này sẽ được giải đáp ngay thôi. Trên đời thực sự có rất nhiều thứ nhưng trong số đó, cái có sức nặng và lớn lao nhất đó là… thức ăn. Chúng ta sống dựa vào thức ăn. Vì có thức ăn mà chúng ta được sinh ra rồi chúng ta sinh sản, chúng ta vận động, chúng ta suy nghĩ. Những người sống mà không ăn sẽ không thể “suy nghĩ”. Chúng ta sẽ tuyệt đối không thể hiểu về hành động “ăn” này, sẽ không thể biết được “sức mạnh vĩ đại và thần bí của thức ăn” nếu không thử nhịn ăn. Với nhưng ai vẫn chưa biết về điều này, tôi xin đề nghị nhất định hãy thử 1 lần, 1 tuần hoặc 2 tuần mà xem. Dù sao thì hàng ngàn năm nay, chúng ta được sinh ra, chúng ta sinh sôi, chúng ta sinh sống, chúng ta thực hiện nhiều hành động, chúng ta tư duy, chúng ta xây dựng khái niệm, chúng ta có tư tưởng, rồi chúng ta biết đến thần thánh. Làm được những việc này trên hết là nhờ vào thức ăn. Như vậy, ta hiểu được một điều rằng: sự sống bắt nguồn từ thức ăn. Nói tóm lại, ta hiểu rằng thức ăn là tiền thân của sự sống trong mọi sinh vật, mọi cơ thể sống, trong thân xác chúng ta, trong thân xác đang sống này. Trong số những thức ăn đó lại có nhiều loại khác nhau. Có cây cỏ (thực vật); có cá, chim (động vật); có nước, không khí, ánh sáng… Tôi coi thực vật và động vật là chặng thứ nhất của cuộc hành trình và khi thử tìm hiểu về hai loại thức ăn chiếm vị trí quan trọng nhất trong số các loại thức ăn này, tôi nhận thấy một điều tương tự. Nói cách khác, tôi hiểu được rằng mọi loài động vật, từ cá, chim hay thú dữ, tất cả đều ăn cây, cỏ (thực vật) để sống. Con người cũng nằm trong số các loài động vật. Vì thế, có thể hiểu nguồn gốc sự sống của những loài tự thân vận động như con người hay động vật là thực vật, những loài không tự thân vận động. Cái vận động bắt nguồn từ cái không vận động. Cái vận động sinh ra từ cái không vận động. Điều này thật thú vị! (Nhà bác học Newton dường như đã nghiên cứu, tìm hiểu đến phần này của dòng chảy sự sống. Ông đã từng nói: chỉ cần không có lực cản thì mọi vật sẽ chuyển động vô hạn theo hướng của lực bị tác động ban đầu. Lực ban đầu ở đây có vẻ như chính là lưu vực dòng sông sự sống. Và lực cản xem ra thực chất cũng là lực tương tự). Vậy thì, chúng ta lại cùng tìm hiểu xem nguồn gốc sự sống của cây, cỏ (thực vật) là gì. Đó trước tiên phải là mặt đất. Là địa cầu, trái đất của chúng ta. Đây là chặng thứ hai trong cuộc thám hiểm tìm kiếm căn nguyên sự sống của chúng ta. Trái đất được hình thành từ đất và nước. Trong đất có chứa tất cả các loại khoáng chất. So với các loài cây cỏ chỉ biết đứng lặng lẽ, không tự thân vận động thì trái đất lại ngược lại, luôn chuyển động không ngừng, không bao giờ đứng im, dù chỉ là một giây. Những thứ không vận động được sinh ra từ những thứ vận động. Điều này cũng thật thú vị! Tuy nhiên, dù có cây cỏ, đất và nước đi chăng nữa, nếu chỉ có thế thì con người không thể sinh sống được. Mặt khác, bản thân cây cỏ cũng không thể sống nếu chỉ có mặt đất. Cần phải có không gian, không khí (gió), ánh sáng mặt trời (nhiệt, lửa), áp suất khí quyển, điện áp, lực từ trường, lực hút… Và đặc biệt, mặt đất cũng không thể tồn tại chỉ riêng mình nó. Đối với con người, cây cỏ, mặt đất, thứ cần thiết và quan trọng nhất đó là bầu trời. Bầu trời này bao bọc lấy mặt đất giống như khoác lên mình vài chiếc áo măng-tô dày vậy. Trong đó, chiếc áo bao bọc trực tiếp mặt đất là không khí. Mặt đất được sinh ra từ bầu trời này. Nếu không có bầu trời thì sẽ không thể có mặt đất. Bầu trời này không vận động mạnh mẽ như mặt đất. Đến đây, tôi đã phát hiện ra một điều: thứ vận động sinh ra từ cái không vận động. Bầu trời này chính là chặng thứ ba của cuộc thám hiểm. Nào, dù đã có cỏ cây, mặt đất, bầu trời những vẫn còn thiếu một cái gì đó để con người hay động vật có thể sống được. Đó là ánh sáng, là mặt trời. Là nhiệt độ. Là nguồn gốc của lửa. Và nếu không có ánh sáng này thì cả bầu trời lẫn mặt đất, cả cỏ cây lẫn con người đều không thể sinh và ra tồn tại được. Và bầu trời này lại là thế giới được sinh ra từ ánh sáng. Thế nhưng, ánh sáng lại mang trong mình một tốc độ đáng sợ. Các bạn có thấy thú vị không khi bầu trời tĩnh lặng lại được sinh ra từ một thứ chạy với tốc độ nhanh đến chóng mặt. Ánh sáng này là chặng thứ tư của cuộc thám hiểm tìm hiểm căn nguyên của sự sống. Đến đây, chúng ta đã tìm hiểu về nguồn gốc của sự sống dựa theo trình tự về sức nặng, độ lớn. Giờ quay lại nhìn mà xem, chúng ta đã đi đến đoạn một loạt yếu tố như Đất, Nước, Gió, Lửa bao quanh và tạo ra thế giới của các loài sinh vật như con người, động vật, thực vật. Có những vết tích cho thấy hình như các vị thần Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại cũng đã tìm hiểu, thám hiểm đến đoạn này (tứ đại nguyên tố). Vậy đến đây liệu chúng ta đã đi đến cùng, thấy hết về nguồn gốc của dòng chảy sự sống chưa? Tôi sẽ thử xem xét lại vấn đề sự sống của chúng ta một lần nữa. À! Vẫn còn sót một thứ! Cho dù thân xác có thể sống với bốn nguyên tố chính là Đất, Nước, Gió, Lửa thế còn tinh thần thì sao nhỉ??? Ta tiếp nhận nó từ đâu? Ta lưu giữ, phát triển, nuôi dưỡng nó bằng cái gì? Nếu không có tinh thần, ta chỉ là những xác chết. Là những thân xác đã chết. Hơn nữa, những đặc điểm về cân nặng (G), độ dài (C), tuổi thọ (S) của thân xác, hay về nhiệt độ, hành động, vận động, về những gì “trông thấy được”… sẽ không thể sinh ra không thể xuất hiện nếu không có tinh thần - một thứ vừa không hề có những đặc điểm trên lại vừa mang trong mình những đặc điểm hoàn toàn trái ngược. Nếu thế thì có lẽ chúng ta đã lạc hướng ở đâu đó trên con đường tìm hiểu dòng chảy của sự sống chăng? Hoặc là chúng ta đã quá coi trọng, quá tập trung vào những yếu tố lớn lao và có sức nặng chăng? Hay là lại có một nguồn gốc khác để tứ đại nguyên tố vô cùng quan trọng này từ đó sinh ra chăng? Lẽ nào còn có nguồn gốc của tứ đại nguyên tố? Lẽ nào chính cái gọi là tinh thần, cái sản sinh ra những đặc trưng của sinh vật, động vật, con người - những loài tự thân vận động này - có khi nào chính tinh thần là cha đẻ của tứ đại nguyên tố chăng? Có lẽ chỉ khi có nguồn gốc của ánh sáng thì các vì sao, mọi thiên thể, rồi bầu trời và mặt đất mới được hình thành. Có lẽ chỉ khi mặt đất được sinh ra thì cỏ cây mới hình thành, và chính khi có cỏ cây thì con người hay động vật mới xuất hiện. Chứ không phải con người và động vật sinh rarồi mới tạo ra thực vật. Tuy nhiên, cái gì đã tạo ra ánh sáng? Cha đẻ của ánh sáng là ai? Nguồn gốc của lửa, của nhiệt là gì???...... Đó có phải là tinh thần không? Không, có lẽ không phải là tinh thần? Thôi, dù là gì đi chăng nữa, chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ kỹ về cái gọi là tinh thần này nhé! Trong tinh thần không có cân nặng (G), không có kích cỡ (C), không có tuổi thọ (S). Các nhà học giả ở những đất nước, hòn đảo, tảng đá trôi nổi trên dòng sông sự sống không hề để mắt tới những thứ không thể cân đo, đong đếm bằng trọng lượng, kích cỡ và thời gian. Nói cách khác, họ không hề tìm hiểu về những thứ không thể động chạm tới ngọn nguồn của thần kinh. Vì vậy, thật vô ích khi hỏi họ điều này. Mặt khác, các nhà tôn giáo, các vị thày tu, giáo sĩ đều là những người thừa nhận sức nặng và tầm vóc của tinh thần nhưng lúc này đây, họ toàn là những người làm vì công việc, làm như một cách để kiếm miếng cơm manh áo. Hơn nữa, họ hoàn toàn bị áp đảo bởi những người theo tư tưởng duy vật, theo đạo Do Thái rồi cả những học giả, nhà khoa học chỉ biết cắm đầu vào giải các bài toán về trọng lượng, kích cỡ, thời gian. Vì thế, hoàn toàn không thể trông cậy vào họ được. Những người thuộc tầng lớp lãnh đạo hay những chính trị gia, những nhà giáo dục cũng vậy, họ vốn dĩ thường lấy tinh thần làm sách vở để giảng dạy mọi học thuật, chỉ đạo mọi giai cấp nhưng giờ đây họ lại có xu hướng dựa vào sự tý vấn của các nhà khoa học và rất nhiều loại ngừời khác nhau (thương nhân, công nhân, quân nhân). Vì thế họ sẽ không cho ta biết ta nên tìm kiếm theo hướng nào. Nào hãy cùng làm rõ khái niệm về tinh thần. Trước tiên, nó là thứ không có cân nặng, kích cỡ, tuổi thọ hay giới hạn về thời gian. Chúng ta không thể nắm bắt được nó với năm cơ quan cảm giác của con người. Nó không hề già đi. Không có thời gian. Thân xác sẽ già đi nhưng tinh thần thì không. Dù có bao nhiêu tuổi nó vẫn tươi tắn như một đứa trẻ. Người ta nói Khí sẽ yếu đi cùng với thời gian, nhưng thực tế đó là cơ thể, thân xác yếu đi chứ tuyệt đối tinh thần không yếu đi. Người ta nghĩ khi trẻ thì mạnh mẽ nhưng cái đó cũng là cơ thể, thân xác mạnh mẽ chứ không phải tinh thần mạnh mẽ. Vì có dòng máu nóng. Bằng chứng là khi là một đứa trẻ sơ sinh thì Khí hoàn toàn không khỏe mà cũng chẳng hề yếu. Khí khỏe hay yếu ở đây là “KHÍ” của máu. Là “KHÍ” của xác thịt. Là khí lực, là sức mạnh. Sức mạnh là thứ có tính vật chất, không phải là tinh thần. Nói chung, cái gọi là sức mạnh tinh thần (tinh thần lực) là sự ngoan cường, là tính đàn hồi của của thân xác. Sự nỗ lực cũng là thân xác. Bằng chứng là không hề có sự ngoan cường hay nỗ lực trong một cơ thể yếu đuối. Cái lớn lên và nhỏ đi cùng thân xác là sức mạnh của thân xác. Trong tinh thần không có sức mạnh. Tinh thần của chúng ta không có khả năng di chuyển dù chỉ là một hòn đá nhỏ. Tôi đã 49 tuổi rồi. 49 tuổi! Sắp bước sang tuổi 50 rồi. Đôi khi tôi tự nghĩ “Thật thế ư? Không có lý nào…”. Tuy nhiên, rõ ràng năm nay tôi đã ăn Tết chào mừng tuổi mới. Thế nhưng tâm hồn tôi, tinh thần của tôi vẫn tươi trẻ như khi 17, 18. Không, có lẽ giống khi tôi lên 3, lên 5. Có câu “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Dường như tri thức đã phát triển, tăng lên từ khi còn bé nhưng tâm hồn thì hoàn toàn không hề lớn lên. Tinh thần hoàn toàn không thay đổi. Vì tinh thần không có hình dáng cho nên nó không già đi, không lớn lên, không nhỏ đi. Cái già đi, lớn lên là thân xác, là tri thức, kinh nghiệm của nó, là cái hữu hạn. Cái có giới hạn. Tinh thần là thứ giúp những kinh nghiệm đó phát huy giá trị. Tất nhiên, tinh thần không mất đi, cũng không tăng lên. Vì không có hình dáng nên nếu tinh thần có lớn lên, hay tăng lên thì có lẽ tại thế giới của tinh thần cũng sẽ nảy sinh vấn đề dân số. Dư thừa dân số có lẽ cũng sẽ trở thành một vấn đề. Thế nhưng, tinh thần không phải là thứ có thể đếm một cái, hai cái. Vậy tóm lại nó nằm ở đâu? Người ta thường nói, thường nghĩ rằng nó nằm ở tim, hay nằm ở chính giữa thân thể, hay nằm ở đầu nhưng thế thì thật lạ. Trong cơ thể của người chết cũng vẫn có tim, có dạ dày, có đầu nhưng không hề có tinh thần. Có lẽ nào tinh thần lúc xuất, lúc nhập chăng? Nếu thế thì nó xuất nhập lúc nào, từ đâu? Chưa ai từng chứng kiến điều này. Vì nó không hình, không dạng. Vì nó vô hình nên vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, từ xa xưa người ta đã tin rằng có tồn tại thứ gọi là tinh thần và chúng ta cũng tin như thế. Chỉ có điều có vẻ trong cơ thể chúng ta không có chỗ nào cho nó trú ngụ. Không thể nắm bắt được. Vậy thì chí ít tôi muốn tìm hiểu đến tận cùng, làm sáng tỏ trạng thái (chức năng hoạt động) của nó. Trước hết cần phải nói rằng chúng ta thường đặt tinh thần trong thế đối lập với vật chất và nghĩ rằng mình đã hiểu khá rõ về vật chất nhưng nói đúng ra, chúng ta chưa hiểu chút nào hết. Vật chất được cho là hình thành từ hơn 90 nguyên tố khác nhau. Những nguyên tố đó lại được hình thành từ những hạt nhỏ hơn - điện tử (electron). Còn những điện tử này được hình thành từ cái gì thì chúng ta không biết. Vì lẽ đó mà việc chúng ta không hiểu về tinh thần âu cũng không có gì vô lý. Lẽ nào không có manh mối gì sao? Trong cuộc thám hiểm về nguồn gốc sự sống, chúng ta đã tiến tới những chặng quan trọng như Thức ăn - Mặt đất - Bầu trời - Ánh sáng. Lẽ nào không có điểm nào giúp ta bước vào thế giới tinh thần sao? Chỉ có một thứ thôi. Đó là “suy nghĩ”. Đây chính là “trạng thái” của tinh thần. Và đây dường như là một đặc tính của con người. Thân xác được tạo ra từ vật chất, vật chất hình thành từ điện tử, điện tử sinh ra từ cái gì, chúng ta chưa biết nhưng có một sự thật chắc chắn là chúng ta biết “suy nghĩ”. Khi ngủ, chúng ta không thể biết chúng ta ở đâu, đang làm gì, thậm chí chúng ta có tồn tại hay không tồn tại. Nhưng nếu nhìn vào hiện tượng nằm mơ thì sẽ thấy dường như chỉ duy nhất có “thế giới suy nghĩ”, “năng lực suy nghĩ”, “hành động suy nghĩ” tồn tại trong lúc ta ngủ.Cái gọi là giấc mơ và “suy nghĩ” là hai việc giống nhau. Chỉ có điều, trong giấc mơ, có những giấc mơ không rõ ràng, vẩn vơ, không thể hiểu nổi, đôi khi không nên có. Vì thế mà thậm chí người ta còn ví những việc không đáng tin là chuyện như mơ. Nhưng, ngay cả trong “suy nghĩ”, trong “thế giới suy nghĩ” cũng có những suy nghĩ không rõ ràng, không đáng tin, không thể hiểu nổi. Vậy tóm lại giấc mơ là cuộc đời hay cuộc đời là giấc mơ??? Tôi hoàn toàn không hiểu! Thậm chí còn có những nhà triết học đã khẳng định rằng giấc mơ là “có thật” và cuộc đời này là một giấc mơ! Bất luận là thế nào, theo tôi có hai loại giấc mơ. Một loại là những giấc mơ thường bị coi là “mộng mị”, tức là những giấc mơ lộn xộn, không rõ ràng, không có đầu đuôi. Còn một loại là những giấc mơ được gọi là “mộng thật”, tức là những giấc mơ mà trong đó, ta thấy được rõ mồn một những việc ngay lúc này lại đang xảy ra tại một nơi rất xa hay những việc sẽ xảy ra trong tương lai vài ngày tới. Ví dụ, đôi lúc trong cuộc sống ta gặp những việc khiến ta phải thốt lên “Ơ, cảnh cha mẹ con cái này hình như…” hay “Ôi chà, mình đã gặp chuyện này ở đâu đó thì phải!”… Nghĩ kỹ một chút thì đó là những chuyện mà ta đã nằm mơ thấy. Chuyện dự cảm, linh cảm điều tồi tệ sắp xảy ra cũng chính là nó. Khi nằm mơ, chúng ta không nhìn bằng đôi mắt mà nhìn bằng trái tim cho nên vì thế, nó giống với việc ta suy nghĩ bằng tinh thần. Ở đây có lý do để nói giấc mơ là chức năng, hoạt động của tinh thần. Người ta có câu “thánh nhân không nằm mơ” hay “nếu thánh thần nằm mơ thì sẽ là những giấc mơ thật”. Cá nhân tôi đây tuyệt đối không phải thánh nhân hay thần thánh nên cũng thường gặp những giấc mơ vô nghĩa, tầm thường. Nhưng cũng có lúc tôi mơ những giấc mơ thật. Và từ khi tôi áp dụng chế độ ăn uống đúng cách (chính thực), những giấc mơ vô nghĩa dần dầnít đi, đồng thời tôi mơ thấy nhiều giấc mơ thật hơn. Những giấc mơ thật tới nhiều hơn trông thấy. Sau đó, sau khi trao đổi với hàng ngàn người về điều này thì tôi tiến tới khẳng định một điều là bất kỳ ai trong chúng ta đôi lúc sẽ mơ những giấc mơ thật, cho dù hầu hết là rất hiếm. Những lời tiên tri của thánh nhân có lẽ cũng thuộc loại này. Dù sao thì “nằm mơ” hay “suy nghĩ” đều là những hoạt động kỳ lạ. Từ thời còn trẻ con, tôi thường hay mơ ước. Lớn lên sẽ trở thành tiểu thuyết gia là ước mơ đầu tiên trong đời của tôi. Sau đó, khi nhận ra mình sẽ không thể trở thành tiểu thuyết gia được, tôi lại mơ ít nhất sẽ trở nhà biên dịch. Trước đó, sau khi tôi mất mẹ năm 13 tuổi, tôi đã có một ước mơ lớn lao làm sao để không còn những bà mẹ mất đi để lại những đứa con bé bỏng, làm sao để không còn người chết vì bệnh tật… Sau đó, khi tiếp xúc nhiều hơn với văn học, tôi đã mơ được đi Pháp. Tôi mơ được học tiếng Pháp. Tôi mơ được học tại trường trung học mà không phải nộp học phí. Và rồi những ước mơ đó lần lượt trở thành hiện thực. Tôi đã được dạy tiếng Pháp miễn phí tại nhà thờ, rồi cuối cùng tôi cũng đã đi Pháp những 6, 7 lần (lần thì đi với tư cách là sinh viên thực tập của Bộ nông nghiệp và thương mại, lần thì đi với tư cách một thuyền viên, lần thì là trưởng phòng, lần thì là thương nhân, rồi sau đó tự bỏ tiền đi để phổ cập văn hóa Nhật Bản và nguyên lý vô song), rồi tôi đã có thể sống tại châu Âu trên dưới mười mấy năm. Những ước mơ của tôi cứ thế lần lượt, lần lượt tự nó trở thành hiện thực. Đến mức tôi có cảm giác gì đó rất đáng sợ. Vì thế, tôi cũng là người không hiểu giấc mơ là cuộc đời hay cuộc đời là giấc mơ. Điều kỳ lạ thứ nhất trong thế giới của giấc mơ đó là: không có giới hạn gì cả. Chuyện gì cũng có thể xảy ra trong giấc mơ. Khi xem bộ phim “Mãi yêu” - bộ phim kể về câu chuyện của một đôi tình nhân rất đáng thương, họ chơi với nhau từ nhỏ, lớn lên họ yêu nhau nhưng sau đó một người bị tra tấn ngày đêm trong lao tù, một người bị giam cầm trong lâu đài của đại công tước, nhưng trong suốt những năm tháng đó, họ vẫn yêu nhau, an ủi nhau hàng ngày trong những giấc mơ và không hề thay lòng đổi dạ cho tới lúc chết - tôi đã vô cùng xúc động. Tôi nghĩ ở nước Anh người ta làm được bộ phim này thì có lẽ người dân nơi đây cũng đã có những hiểu biết nhất định về sự thật của những giấc mơ. Điều kì lạ thứ hai đó là: vì không có giới hạn nào nên cũng không có khổ đau hay phiền muộn. Đây là điểm chung với thế giới của tinh thần. Vì thế, tôi tin rằng giấc mơ và tinh thần là những khái niệm giống nhau. Đặc điểm của thế giới giấc mơ là tự do, không hề có sự bó buộc nào, hay nói cách khác, đó là thế giới vĩnh hằng, là thế giới vượt cả không gian và thời gian. Trong thế giới giấc mơ, ta không già đi, ta có thể dễ dàng đi tới những miền xa xôi cách hàng trăm hàng nghìn dặm. Ta còn có thể thấy được thế giới quá khứ hay thế giới tương lai. Tự to tự tại. Và chẳng phải cái gọi là tự do tự tại này là đặc trưng của thế giới thần thánh hay sao? Có rất nhiều sự kiện, nhiều câu chuyện chứng minh sự giống nhau (tính đồng nhất) của thế giới giấc mơ và thế giới tinh thần. Không chỉ có bộ phim “Mãi yêu” của Anh hay câu chuyện “Mộng uyên ương hồ điệp” của Trung Quốc, ngay cả bộ tộc nguyên thủy Hottento ở châu Phi, người Eskimo sống ở Bắc Cực, hay thổ dân đảo Fiji cũng có nhiều phong tục tín ngưỡng cho rằng giấc mơ là sự thật, là tự do, là thế giới vĩnh hằng. Cá nhân tôi cũng có nhiều trải nghiệm về những giấc mơ thật vô cùng kỳ bí. Tuy nhiên, trong khuôn khổ cuốn sách nhỏ này tôi không thể viết hết được. Cuốn “Tư tưởng - Tôn Giáo - Xã hội của các bộ tộc nguyên thủy” của giáo sư Lévy-Bruhl, Chủ tịch hội triết học Pháp, là một minh chứng tuyệt vời cho điều này nhưng để sang tiếng Nhật thì có lẽ phải mất tới hơn 800 trang sách. Vì vậy, đến đây tôi xin tạm thời đưa ra kết luận rằng giấc mơ là thế giới tự do, vĩnh hằng, và ở điểm này nó giống với thế giới của tinh thần, thế giới của ý chí (thậm chí là ý thức). Việc tiếp theo của chúng ta là tìm hiểu về sự liên hệ, mối tương quan giữa một bên là thế giới vĩnh hằng tự do và vô hạn đó với một bên là thế giới phiền phức, ngắn ngủi và hữu hạn của chúng ta. Cải chính bổ sung Khi nhìn lại phần này sau 10 năm, tôi vô cùng kinh ngạc trước sự thay đổi của thời gian. Bởi vì trong phần này, từ “tôi tin” đã xuất hiện vài ba lần. Đây là những chuyện đã rõ và có thể chứng minh một cách dễ dàng nhưng thật kỳ lạ, suốt 1000 năm qua, không có ai đứng ra chứng minh, giải thích hay tìm hiểu một cách cụ thể. Vì thế, việc một cậu thanh niên non nớt như tôi làm cái việc lệch lạc đó quả là rất kiêu căng (và vô cùng phiền toái), đã tự lừa dối từ chỗ “không biết” trở thành “tin thôi”. Tuy nhiên, lòng tin hay tín ngưỡng là đại danh từ của vô tri, thiếu hiểu biết, là sự ngụy trang, là đường tháo lui, vô cùng hèn hạ. Nếu là quyển sách nhập môn với những câu chuyện có tính thực dụng, ngây thơ và dễ hiểu thì như thế này là đủ, là vừa vặn nhưng sẽ không được chấp nhận bởi một số người ít nhiều biết suy nghĩ. Đặc biệt, nó sẽ không được những người ăn học theo khoa học hiện đại tiếp nhận. Những thứ như bầu trời… là tiền nguyên tố, là hạt cơ bản, hạt sơ cấp nếu nói theo ngôn ngữ thời nay. Vật lý học nguyên tử cũng đã giải thích và chứng minh rằng hạt cơ bản là những vận động dạng sóng, là những rung động và là sóng năng lượng nên ngày nay có lẽ bất kỳ ai cũng hiểu. Những rung động (năng lượng) hay vận động dạng sóng đó được sinh ra bởi hai cực đối lập (lực ly tâm và lực hướng tâm). Điều này thì có lẽ những ai ham tìm tòi suy nghĩ sẽ hiểu được ngay. Thế giới hai cực này tạo nên năng lượng, hạt cơ bản, nguyên tố, cỏ cây, con người. Vì thế, điều đương nhiên là cuộc đời hay tự nhiên này có cấu tạo mang tính biện chứng. Đương nhiên, thế giới hai cực (thế giới tương đối, hữu hạn) chỉ là một bộ phận của Đại vũ trụ tuyệt đối, vô hạn và vĩnh cửu. Vì thế, có lẽ ai cũng sẽ hiểu về mặt khái niệm. Về cơ cấu của nó thì xin phép lược bớt ở đây. 2. THẾ GIỚI VĨNH HẰNG Từ xa xưa, các nhà triết học Đông Dương đã quan niệm thế giới của những hiện tượng hữu hạn, phiền phức, vô thường này được sinh ra và nuôi dưỡng bởi thế giới vĩnh hằng, vô hình vô hạn, thế giới tự do bình đẳng và sáng tạo, rồi họ tiến hành hệ thống hóa, tìm ra trật tự của nó, tạo ra Sáng Thế Ký và áp dụng giảng dạy như là những nguyên lý chỉ đạo cuộc sống của con người. Tất cả các thánh điển học thuật, tôn giáo của Đông Dương như MAHÂ PRAJNÂ PÂRAMITÂ HRIDAYA SUTRÂ (Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh), Đạo Đức Kinh (của Khổng Tử), Dịch Kinh, Áo Nghĩa Thư (Upanisad), Thánh Kinh, Cổ Sự Ký (Kojiki), Nhật Bản Thư Kỷ (Nihon Shoki), Báo Đức Ký… đều có chung tư tưởng này. Thế nhưng, người thời nay hoàn toàn không hiểu được những tác phẩm này. Nó giống như một thứ ngôn ngữ khó hiểu đối với họ. Người thời nay thiển cận đến mức đáng sợ. Nghe nói ngày xưa, khi các nhà truyền giáo đầu tiên đến Nhật Bản để truyền đạt phúc âm của Chúa, một vị lãnh chúa đã nói với họ “Vậy thì hãy cho tôi xem Chúa của các ông!”. Yêu cầu này không khác gì bảo ai đó cho xem giấc mơ của họ và thật nực cười nếu có ai định cho xem thật. Người thời nay hầu hết đã mắc chứng cận thị hoặc mù màu tinh thần như vị lãnh chúa kia. Không, không phải chỉ những người thời nay mới thế đâu. Tại phương Tây, từ thời Trung cổ, hầu hết mọi người dân đều bị cận thị, luôn miệng đòi hỏi “Đưa Chúa ra đây!”, luôn miệng khăng khăng “Làm gì có chuyện có thứ gì không thể nhìn thấy!”… Bức tranh cuộc chiến dữ dội và khốc liệt giữa tôn giáo và khoa học cứ thế kéo dài, lan rộng cho tới tận thời hiện đại ngày nay. Mới đây, tôi đã có dịp tới thăm thành phố Nagasaki và chợt nhớ lại nhiều sự kiện đã xảy ra nơi đây. Câu chuyện tình bi thảm giữa một cô gái Nhật Bản và một sỹ quan Hà Lan ở đảo Dejima; vụ hành quyết 54 chiến binh tử vì đạo hay cuộc khởi nghĩa Amagusa. Tất cả đều nằm ở những trang cuối cùng của cuốn lịch sử đấu tranh đẫm máu giữa phe tin vào tôn giáo và phe tin vào khoa học - giữa một bên là những người tin vào thế giới tinh thần, thế giới vô hạn với một bên là những người tin vào thế giới vật chất, thế giới hữu hạn. Nói cách khác, đó là cuộc chiến tranh, xung đột của sự thiển cận quá đáng và những ý kiến mù quáng về tinh thần. Tất cả những cuộc đấu tranh giữa tôn giáo và khoa học thời Trung cổ, từ nỗi thống khổ của nhà bác học Galileo đến vụ hỏa thiêu nhà triết học Giordano Bruno; từ vụ khủng bố, ngược đãi Martin Luther và Jean Calvin cho đến câu chuyện tình trên đảo Dejima hay cuộc khởi nghĩa Shimabara, tất cả đều là những câu chuyện, những biến cố lịch sử có thật mà như mơ, có thật mà như đùa. Rồi mai đây, sau chừng 50 năm nữa, sự đau khổ của thế giới ngày nay, những bóng dáng u sầu, phiền muộn, rồi cả Hitler hay Churchil, hay Olympic của Sắt và Máu… sẽ trở thành “những câu chuyện” được người đời nhắc tới. Những người như Galileo hay vị lãnh chúa kia chỉ nhìn thấy thế giới hiện thực vật chất, thế giới hữu hình hữu dạng trước mắt họ, (cái hình dạng đó nếu có, nếu thấy được thì nhất định cũng sẽ tan biến mà thôi), mà không thể thấy được thế giới của 5, 10, 50 hay 100 năm sau. Giả sử họ thấy được đi chăng nữa, họ cũng không hiểu được mối liên hệ giữa thế giới đó với hiện thực. Ngược lại, những người như Luther, như Calvin, những kẻ tử vì đạo ở Amagusa hay những nhà truyền giáo đã nỗ lực hết sức để giảng giải, thu phục vị lãnh chúa nọ thì sao, họ thấy được thế giới của hàng ngàn, hàng vạn năm trước cũng như thế giới của hàng ngàn, hàng vạn năm sau, họ thấy được thiên đường nhưng thế giới gần gũi chỉ 50, 10 năm thì lại trở nên mờ ảo, lệch lạc trong mắt họ, khiến họ nhìn thế giới hiện thực như những giấc mơ. Tóm lại, đã xuất hiện hai phái, trong đó người ở phía thế giới vĩnh hằng không giải thích được cho người ở phía thế giới hiện thực hiểu được tầm quan trọng, sự lớn lao của thế giới vĩnh hằng và ngược lại, người ở phía thế giới hiện thực không giải thích được cho người ở phía thế giới vĩnh hằng hiểu được tầm quan trọng, sự lớn lao của thế giới hiện thực. Vậy tại sao lại có những người có tư tưởng xung đột, đối lập nhau như vậy? Tại sao lại có thời kỳ quá đỗi vật chất rồi lại sinh ra thời kỳ quá đỗi tinh thần đối lập hoàn toàn như vậy? Tôi sẽ lại nói đến việc mỗi nước một khác và đã có thế giới quan về nguyên lý vô song giải đáp vấn đề về sự liên quan giữa thế giới hiện thực này (thế giới Sein) và thế giới lý tưởng đó (thế giới vĩnh hằng, thế giới Sollen). Nhưng vì chúng ta đang sống trong thời đại của khoa học, mọi thứ đều là khoa học nên tôi sẽ nói từ góc độ khoa học. Khoa học (hay học thuật phương Tây) bắt đầu từ Aristotle, người được coi là cha đẻ của mọi ngành học. Aristotle chia HỌC thành hai loại: KHOA HỌC (ngành học về thế giới vật chất hữu hạn) và TRIẾT HỌC (ngành học về thế giới tinh thần - ngành học về căn nguyên của thế giới vật chất). Thế nhưng, do phía ngành học về thế giới vật chất hữu hạn này rất cụ thể và dễ hiểu đối với bất kỳ ai nên những người đi sau Aristotle tất cả đều dồn nhiều công sức nghiên cứu hơn. Tức là có nhiều người thiển cận hơn. Sau nhiều thế kỷ, ngành học thuật có tính vật chất này ngày càng phát triển mạnh hơn và cuối cùng, đến thế kỷ 18, 19 nó đã đạt đến đỉnh cao nhất. Đây là thời kỳ của khoa học vạn năng. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 20, nó đã đi đến cùng đường. Nhà vật lý người Đức Max Planck, người sáng lập Thuyết lượng tử đã đưa ra tuyên bố “Khoa học là nghiên cứu về thế giới cảm giác”. Cái gọi là thế giới cảm giác đó bao trùm toàn bộ thế giới, cả cá nhân, cả nhân loại, cả động vật, thực vật và trái đất nhưng so với đại vũ trụ, đại tự nhiên quảng đại vô biên, nó chỉ bé nhỏ như những hạt bụi li ti vẩn vơ trong bầu trời, như những bọt bong bóng nhỏ bé trôi nổi và biến mất giữa lòng đại dương. Đại vũ trụ, đại tự nhiên vô cùng uy nghiêm, không bao giờ thay đổi hay bị ảnh hưởng cho dù có bao nhiêu hạt bụi và bọt được sinh ra hay biến mất. Đại vũ trụ, đại tự nhiên này được gọi bằng cái tên THỰC TẠI hay THỰC TƯỚNG. Thế giới của thực tại ở đây là thế giới quảng đại vô biên, tự do, vô hạn, không hề bị bó buộc và vĩnh cửu. “Thế giới của thực tại” cũng sẽ là thế giới mà từ nay về sau khoa học phải nghiên cứu. Nếu điều này là sự thật thì khoa học đã chấp nhận thất bại. Nói cách khác, cuối cùng khoa học cũng đã thừa nhận thế giới vĩnh cửu, vô hạn. Nhưng cái gọi là thế giới vĩnh cửu, thế giới vô hạn phải là duy nhất. Nếu có hai thì nó chỉ là thế giới 1/2 vĩnh cửu mà thôi. Sẽ lại là một sai lầm tương tự nếu cho rằng thời gian và không gian là hai phạm trù riêng biệt. Cả hai đều là tên gọi khác của thế giới vô hạn của thực tại quảng đại vô biên này. Bởi lẽ tất thảy đều vĩnh cửu, vô hạn. Mặt khác, thế giới tinh thần mà tôi đề cập ở phần trước cũng là thế giới vĩnh hằng vô hạn, cho nên nó cũng là tên gọi khác của thế giới thực tại. Cái gọi là thế giới tinh thần (thượng đế) và cái gọi là thực tại, thực tướng cũng chỉ là một. Nếu lý giải rành mạch được điều này thì sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Cái tìm hiểu và khẳng định rõ tính đồng nhất (identity) (vật tâm nhất như tính) của thế giới vật chất và thế giới tinh thần chính là thế giới quan. (Trong từ THẾ GIỚI (sekai) thì THẾ có nghĩa là thời gian vô hạn, GIỚI có nghĩa là không gian vô hạn; trong từ VŨ TRỤ (uchu) thì VŨ có nghĩa là thời gian vô hạn, TRỤ có nghĩa là không gian vô hạn. Phật giáo gọi thời gian vô hạn là Vô lượng thọ, còn không gian vô hạn là Vô biên quang). Đến đây, ta đã khẳng định với nhau một điều là giấc mơ và tinh thần, tinh thần và thời gian, không gian đồng nhất với nhau, là thế giới vĩnh cửu, vô hạn. Tuy nhiên, vẫn còn chỗ nào đó chưa được rõ ràng. Không sao, tất cả rồi sẽ sáng tỏ thôi… Cả Immanuel Kant (Kantơ) và Max Planck đều thừa nhận ở phía sau xa xa của thế giới vật chất hữu hạn có tồn tại thế giới thực tại. Tuy nhiên, thế giới vật chất hữu hạn (thế giới con người) và thế giới tinh thần (thế giới thần thánh) liên quan, liên hệ với nhau như thế nào là vấn đề lớn cuối cùng. Tôi không nhìn nhận đây là một vất đề triết học phức tạp mà sẽ sắp xếp, tổng hợp một cách đơn giản dù còn sơ sài và đôi chỗ còn lộn xộn. Tôi cho rằng thế giới hữu hạn (vô thường) dù có rộng lớn, bao la hay có nhiều bao nhiêu đi chăng nữa cũng chỉ là một phần, một phần nhỏ của thế giới vô hạn. Tôi muốn khẳng định chắc chắn rằng cái hữu hạn là một phần của cái vô hạn. Ngay cả những người theo chủ nghĩa vô thần cũng có lúc bất giác buột miệng cầu khấn “Lạy Chúa!” hay “A di đà Phật” để mong sao tai qua nạn khỏi. Ngay cả những nhà vật lý hay học giả về thế giới vật chất vô hạn như Newton, Planck cũng không thể không tin vào sự tồn tại của thế giới thần thánh, thế giới vĩnh hằng này dù điều đó còn rất mơ hồ và chưa được chứng minh một cách logic. Họ tin vào điều đó từ lúc nào không hay chính bởi vì họ đã lờ mờ biết được rằng sự vĩ đại của nó, sự thần diệu trong sức mạnh của nó đã tạo ra thế giới này, cuộc sống này của chúng ta, luôn ngự trị bên trên chúng ta, che chở, bảo vệ chúng ta. Điều này tựa như việc qua những giấc mơ ta có thể rong chơi, du hành tới thế giới của tự do, vô hạn, vĩnh hằng, không có thời gian và không gian; tựa như việc ta có thể tự do đi lại giữa thế giới của giấc ngủ không câu nệ, không ràng buộc và thế giới đầy rẫy sự câu nệ, khoảng cách, tranh giành, phiền muộn; tựa như việc nó dạy cho chúng ta về sự tồn tại của thế giới tự do vô hạn và sự thật về một thế giới quá đỗi khác biệt của giai đoạn trưởng thành đầy kỳ lạ, phức tạp được sinh ra từ giai đoạn ấu thơ, niên thiếu, thanh niên khờ dại. Thử tổng hợp những điều đó lại và nghĩ mà xem, ta sẽ lờ mờ hiểu được một điều rằng: thế giới ánh sáng, thế giới tương đối, hữu hạn được hình thành từ thế giới tối tăm, vô hạn, không bến bờ. Ta có thể trở nên giàu có chính từ trong nghèo khổ, đói rách. Tức là chính “sự không có gì” sẽ tạo ra “sự có gì”. Cái hữu hạn được sinh ra từ cái vô hạn, tức là, cái CÓ được sinh ra từ cái KHÔNG. Một người dù giàu có thể nào đi nữa khi chết đi mọi tài sản sẽ trở về với số không tròn trĩnh, thậm chí cái thân xác đáng thương của họ cũng không còn khả năng tự thân tư duy nữa. Ở thế giới này có hiện tượng dư thừa dân số nhưng dường như điều này không tồn tại ở thế giới bên kia. Thế giới đó có mở cổng trời và tiếp nhận thân xác của hàng tỷ tỷ động vật, thực vật khi chúng chết đi hay không, điều đó không ai biết được, nhưng có một điều chắc chắn là nó không bé lại, hẹp đi vì điều đó. Như thế tức là thế giới của cái chết cũng vô hạn. Vì nó cũng vô hạn nên nó cũng là một tên gọi khác của thế giới tinh thần, giấc mõ, thực tại. À ra thế, cái chết cũng thế! Từ xa xưa, con người chúng ta đã đúc kết rằng “Chết giống như sự trở về”, chúng ta nhận thức rằng “Xả thân vì nước (diệt tư phụng công) là bổn phận của người dân”, chúng ta cũng biết sử dụng từ “Quy U” (kiyu – chết). Đó là vì từ xưa chúng ta đã có niềm tin rằng “Chúng ta đến với thế giới này (Hiển giới) từ thế giới bên kia (U giới) và chúng ta sẽ sớm quay trở về nơi đó”. Nếu không nghĩ như thế thì có lẽ việc chết đi, việc phải ra đi một mình để lại sau lưng những người ta yêu quý sẽ thảm thương, đau đớn, sầu khổ đến nhường nào. Thế nhưng, chết dường như trên thực tế không đau khổ đến mức đó. Trong suy nghĩ của rất nhiều người, sống mới thực sự là khổ đau. Chính bản thân chúng ta hẳn cũng có lúc nghĩ: nếu sống mà đau khổ thế này thì thà chết đi còn hơn. Khi ta ngủ say, ta sẽ quên hết mọi ưu phiền, đớn đau, thất vọng, tội lỗi và cái ác. Châm ngôn Pháp cũng có câu “Cái chết và giấc ngủ là hai chị em!” Chính vì đang sống thực sự mà ta cảm thấy khổ sở rồi đau đớn khóc than. Nhưng nếu chết rồi, ta sẽ hoàn toàn không còn phải kêu gào, than khóc nữa. Ta nói cái chết là giấc ngủ bình an vĩnh hằng. Đại vũ trụ, thế giới vô hạn, tinh thần, thượng đế, tuyệt đối, thực tại là thế giới yên bình như thế. Mọi nỗi khổ của quá khứ hay đau thương của tương lai sẽ không thể nào khiến ta đau đớn, dằn vặt được nữa. Cả quá khứ lẫn tương lai đều là thế giới thực tại, thần thánh, vô hạn, vĩnh hằng, bao la, rộng lớn. Ta sẽ quên hết mọi nỗi đau của ngày xưa. Ta quên hết đau đớn, ta quên cả niềm vui. Dù có nhớ lại những kỷ niệm đẹp đẽ của ngày xưa ta cũng không thể vỗ tay, cất tiếng reo vui hay nhảy lên vui sướng. Giờ đây, dù có nhớ lại những biến cố đau thương, những cơn gào khóc, những nỗi đau từng khiến ta quằn quại, ta cũng không thể cảm nhận được gì nữa, dù chỉ là vết kim đâm vào tay. Ta sẽ không nhớ nổi mình đau thế nào khi một giọt nước lạnh chạm tới thần kinh răng. Thế giới của ký ức cũng thuộc về một thế giới bao la tràn đầy sự tĩnh lặng đến vô hạn. Và dĩ nhiên, thế giới của “quên” cũng là vô hạn. Sự khác biệt giữa nhớ và “quên” cũng giống như sự sống và cái chết là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Nhớ là khi những người đang sống, những người có thân xác, những người đang sống trong thế giới hữu hạn ngắm nhìn, quan sát thế giới vô hạn. Tức là hòa nhập vào thế giới vô hạn, thế giới thần thánh, thế giới của cái chết. Có lẽ ta cũng có thể nói “Quên là anh em của cái chết” Tóm lại, chúng ta được sinh ra từ thế giới của “lãng quên” và được đặt vào thế giới của “ký ức”, ta băng qua thế giới ký ức rồi không lâu sau ta sẽ lại hòa nhập, tan biến vào thế giới “lãng quên”. Ngay cả những vĩ nhân như Chúa Giêsu, Napoleon, Hitler cũng sẽ tan biến vào thế giới lãng quên tĩnh lặng, thế giới của những giấc mơ vô hạn, thế giới của cái chết. Không ai cưỡng lại được. Cuộc đời thật ngắn ngủi, bi thương. Như tiếng chuông tịnh xá Jetavana, như đạo lý Thịnh Giả Tất Suy. Cái gì rực rỡ rồi cũng sẽ lụi tàn, cái gì có hình dạng rồi cũng sẽ tan biết. Chàng trai trẻ khôi ngô tuấn tú rồi cũng sẽ hóa thành một đống xương trắng ởn. Ngắn ngủi, mong manh hơn giọt nước trên ngọn cây, hạt sương trên lá cỏ, đó chính là phận số cho cuộc đời đáng quý của chúng ta. Thế nhưng, đừng vì bận lòng trước số phận mà nỡ chấm dứt cuộc đời ngắn ngủi đó. Ta nên cố gắng hết sức mình làm những điều ta thích để sống cuộc sống ngắn ngủi, bi thương đó một cách vui vẻ, hạnh phúc nhất. Điều này chỉ có được ở những người thấu hiểu về quá khứ của bản thân, về quê hương của sự sống, về mái nhà xưa hay có thể nói là nơi mà ta nhất định sẽ quay về, cũng như biết rõ về tương lai, về nơi bản thân sẽ hướng tới. Những người như thế sẽ chỉ thấy cuộc đời này là niềm vui sướng, và giống như những chàng trai cô gái trẻ đang trên đường đi tham quan du ngoạn, họ sẽ có thể vui vẻ tận hưởng cuộc sống như một giấc mơ đẹp. Họ tự do vui vẻ nhảy múa hát ca. Những ai không làm được điều này (ví dụ như các bạn trẻ bị đau bụng, bị say tàu xe...trên đường đi chẳng hạn), sẽ không thể có một chuyến đi vui. Đó là tội lỗi của người đó. Vì họ không được giáo dục. Vì họ tham lam, thèm khát. Bệnh tật xuất phát chính từ sự tham lam, từ dục vọng hay nói cách khác là từ sự ngu dốt. Tôi - người đã điều trị cho hàng chục vạn bệnh nhân - dám khẳng định chắc chắn về điều này. Tham lam, dục vọng, ngoan cố, ngạo mạn là đặc trưng của những kẻ yếu đuối, bệnh tật. Tất cả đều xuất phát từ sự ngu dốt, đần độn. Sự ngu dốt, đần độn đó xuất phát từ một đám mây - đám mây sẽ làm suy yếu, lu mờ luồng ánh sánh trí tuệ vốn có trong con người từ khi sinh ra. Tất cả chúng ta khi sinh ra đều mang trong mình một trí tuệ tuyệt vời. Bởi vì chúng ta được sinh ra từ thế giới vô hạn, từ cõi chết (U giới), từ thế giới tuyệt đối, thế giới tinh thần, từ thế giới của thần thánh. Chúng ta là con của Trời, con của Đại vũ trụ, Đại tự nhiên, là người nối nghiệp của vô hạn, tuyệt đối, của thần thánh. Nhưng chúng ta lại quên mất điều này (chúng ta được dạy để nghĩ rằng chỉ tồn tại thế giới hữu hạn, vật chất, bất tự do, có phân biệt; chỉ tồn tại một thế giới ngắn ngủi, bi thương). Đây chính là đám mây gây bệnh. Đám mây này chính là nền giáo dục của những người chỉ biết tới thế gian này, chỉ biết tới thế giới hữu hạn này. Quả thực, tất cả tri thức của con người sẽ là tội ác nếu nó không phải là những tri thức để biết về vô hạn, vĩnh hằng, tuyệt đối, thần thánh. Tuy nhiên, công kích, chỉ trích nền tri thức đó, nền giáo dục đó cũng vô ích mà thôi. Người có thể phê phán, chỉ trích nền tri thức, giáo dục đó phải là người hiểu rõ về thế thới thần thánh. Người thực sự hiểu biết về thế giới thần thánh, thế giới vô hạn đó chắc chắn sẽ có đủ khả năng giảng giải, giải thích một cách dễ hiểu về thế giới thần thánh, về thế giới vô hạn, về thế giới nguồn gốc của sự sống cho những người chưa biết hay những người chỉ biết tới thế giới hữu hạn. Và họ có nghĩa vụ giảng giải những điều đó, cho nên nếu làm theo kiểu công kích, chỉ trích thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Chỉ nên trách móc, hành hạ, đày đọa bản thân mình mà thôi. Rồi nếu gặp khó khăn thì nên nhờ cậy tới sức mạnh của thần thánh, cầu xin sự giúp đỡ của tuyệt đối, của vô hạn. Một khi chúng ta được ban tặng và cho phép sử dụng cái gọi là tinh thần, và một khi cái tinh thần đó chính là thế giới vô hạn, là thượng đế thì nếu chúng ta chăm chỉ cầu nguyện, thành tâm cầu khẩn thì chắc chắn không có gì là không thể. Từ xa xưa chúng ta đã luôn được răn dạy rằng “Tinh thần nhất đáo Vạn sự thành công”, rồi “Thành tâm, thành ý, mọi chuyện nhất định thông” (Chí thành thông thần). Chừng nào có tồn tại thế giới hữu hạn, thế giới vật chất, thế giới hữu hình, thế giới có thể nhìn thấy được (thế giới của những C, G, S) thì chừng đó sẽ có những con người chỉ thấy được riêng thế giới đó và những người chỉ nhìn vào riêng thế giới đó. Chính những con người đó mới là thần dân thực sự của thế giới vật chất, hữu hạn, thế giới có vinh - nhục, có thịnh - suy, có hợp - tan; còn ta, những người thừa nhận sự tồn tại của thế giới vô hạn ở bên trên hay xung quanh thế giới đó chỉ là những hành khách, lữ khách, kẻ ăn nhờ ở đậu, kẻ ngoại tộc hay dân ngoại bang mà thôi. Ta không có tư cách gì để phản đối hay chỉ chích những người đang gìn giữ và làm ăn trên mảnh đất đó - những công dân thực thụ. Ta chỉ nên lặng lẽ theo sau họ mà thôi. Rồi khi họ gặp điều khó khăn, rơi vào hiểm nguy, lầm đường lạc lối, mỏi mệt rồi gục ngã (vì thế giới hữu hạn là thế giới không lối thoát, là ngõ cụt nên chắc chắn có lúc họ sẽ cùng đường. Trong thế giới của sức mạnh hữu hạn sẽ luôn có hiện tượng thú vị có tên gọi “mệt mỏi”, và luôn có dấu chấm hết), chỉ khi đó ta sẽ sải chân bước tới, chung tay giúp đỡ, kéo họ thoát khỏi thế giới nhỏ bé đầy đau khổ đó và đưa họ bước vào thế giới vô hạn. Cho đến khi ấy, ta cần chuyên tâm tu dưỡng, răn dạy bản thân để không đánh mất quyền công dân của thế giới vô hạn, không đánh mất tư cách là người kế tục của Chúa Trời, người đại diện của tinh thần. Nói tóm lại, ta phải không ngừng đào sâu khai thác dòng suối nguồn hạnh phúc vô tận của chính mính. Có lẽ tôi đã nói lạc đề quá rồi! Đến đây, hãy cùng nhau nhìn lại mối quan hệ giữa tinh thần và thế giới này một lần nữa. Thế giới tinh thần, thế giới tự do, bao la vô hạn là thế giới bình đẳng và không có khổ đau nên có thể nói đây là thế giới của thần thánh, là Đại vũ trụ, Đại tự nhiên. Ta không thể chứng minh rằng thế giới tinh thần vô hạn, vô lậu này đã sinh ra thế giới vật chất hữu hạn, hữu lậu này. Và dĩ nhiên ta cũng không thể chứng minh cái vô hạn đó tạo ra cái hữu hạn theo cơ chế nào. Cũng giống như con cái không thể sinh ra cha mẹ. Con cái không thể chứng minh ai đó là cha mẹ thật của mình mà chỉ biết tin rằng đó là cha mẹ mình. Dù đó không phải thực sự là cha mẹ mình thì ta cũng chẳng biết làm sao. Dù ta có nhìn họ bằng con mắt nghi ngờ và nghĩ rằng họ không phải cha mẹ mình thì cha mẹ đó cũng sẽ không biến đổi thành cha mẹ thật được. Ta chỉ được phép tin. Chỉ tin mà thôi. Đáng thương thay những kẻ không biết tin tưởng! Bất hạnh thay nhưng con người của thế giới vật chất hữu hạn! Xót xa thay những con người của thế giới bất công, nô lệ! Họ xây nên pháo đài tường đồng vách sắt của nô lệ và phân biệt rồi tự nhốt mình ru rú trong đó. Tôi tin rằng Đại vũ trụ này, thế giới vô hạn, tinh thần, thần thánh này đã tạo ra thế giới hữu hạn. Và tôi nghĩ công cuộc sáng tạo này không phải là những câu chuyện cổ tích, thần thoại từ hàng trăm ngàn năm trước mà đó là sự thật đang diễn ra ngay lúc này đây, nó đang diễn ra từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây. Nó là khi ta muốn làm gì, muốn tạo ra cái gì, ví dụ như khi ta vẽ một bức tranh; miêu tả một giấc mơ; ăn một bát cơm; hay là xây dựng trật tự mới của Châu Âu. Tất cả đều là chức năng, hoạt động của tinh thần và sẽ mau chóng được thực hiện. Khi muốn xây một ngôi nhà mới tiện nghi hơn, người ta sẽ thực hiện ước mơ đó. Tất cả những bức tranh, giấc mơ, bát cơm, trật tự mới, hay ngôi nhà này đều là sản phẩm của thế giới tinh thần. Không có tinh thần, không có bản thiết kế thì ta sẽ không thể xây được dù chỉ là một ngôi nhà nhỏ. Vì chúng ta có tinh thần này, vì chúng ta được ban tặng tinh thần này, vì chúng ta có thể mơ bất kỳ giấc mơ nào nên ta có thể thực hiện bất cứ điều gì trên thế giới này. Phải chăng tự do ý chí chính là đây. Dù là ước mơ gì, dù là hoài bão gì, trong thế giới này, trong thế giới vật chất hữu hạn này ta đều có thể chúng biến thành hiện thực. Ta không làm được là vì ta không am hiểu về thế giới vật chất hữu hạn, thế giới hiện hữu trước mắt. Vì ta định xây một ngôi nhà gạch trong khi chẳng có viên gạch nào. Nói cách khác, đó là vì ta không am hiểu về thế giới hữu hạn mà Đại vũ trụ, Đại tự nhiên, thần thánh đã tạo ra. Không! Đó là vì ta không am hiểu về thế giới vô hạn, về Đại vũ trụ, Đại tự nhiên, về Thượng đế. Napoleon thực hiện được ước mơ lớn lao của mình bởi ông đã hiểu khá rõ về thế giới thế giới vô hạn, về thế giới tinh thần và Thượng đế, cũng như ông đã hiểu tường tận về thế giới vật chất, hữu hạn, hữu hình. Rồi cuối cùng ông phải trải qua những giây phút cuối đời vô cùng bất hạnh bởi lẽ ông chỉ biết đến thế về thế giới vật chất hữu hạn hữu hình. Ông khá am hiểu về Đại tự nhiên, Đại Vũ trụ và Thượng đế nhưng ông vẫn chưa biết hết mọi thứ. Dù sao thì tôi tin rằng thế giới tinh thần vô hạn hay Thượng đế là sức mạnh tạo ra thế giới này, tạo ra tự nhiên, con người cũng như vật chất và nền văn minh của nó. Dù cho có người không thể tin điều đó thì cũng không có gì là xấu xa hay trở ngại. Không sao cả! Chính vì có những người như thế nên cũng tồn tại thế giới vật chất hữu hạn hữu hình, thế giới ngắn ngủi. Ta sẽ được chính họ kể cho nghe những câu chuyện thú vị về thế giới vật chất hữu hạn. Đến đây, đội thám hiểm nguồn gốc sự sống chúng ta cùng dựng trại nghỉ ngơi thôi. Bởi chúng ta đã đến được với thế giới vô hình, thế giới vô hạn, thế giới của những gì vĩnh cửu, thế giới căn nguyên. Chúng ta đã đi một chặng đường dài, lần dò theo dòng chảy sự sống, đi đến thế giới của cỏ cây, rồi tiếp tục bước tới, phát hiện ra thế giới mặt đất, sau đó hòa mình vào thế giới bao la rộng lớn của bầu trời ðể cuối cùng vươn tới được ranh giới của nó, rồi sau bao khó khăn ta cũng đã băng qua thế giới của ánh sáng và phát hiện ra rằng trước mặt là “thế giới không thể nhìn thấy”, hoàn toàn tối đen, là thế giới của vô hạn. Nhưng cũng tại đây, dòng chảy sự sống của chúng ta đã biến mất. Tựa như câu chuyện về một chàng trai yêu thích thám hiểm, vì muốn tìm tới vùng đầu nguồn của dòng sông đang chảy ngang qua ngôi nhà mình, anh đã men theo dòng sông đi vào rừng, rẽ lá cây trèo lên núi tìm kiếm nhưng cuối cùng anh mất dấu nguồn nước. Và đến đây anh hiểu ra rằng những cơn mưa từ bầu trời là căn nguyên của dòng chảy nhưng anh không thể tìm ra nguồn gốc của những cơn mưa đó nên chỉ còn biết thẫn thờ đứng như trời trồng tại đó. Vì mưa là vật chất, là thứ thuộc về thế giới hữu hạn nên sau một vài ngày miệt mài tìm hiểu, chàng trai có lẽ sẽ hiểu được rằng nước của sông, của biển chính là nguồn gốc của nó. Thế nhưng, vì dòng chảy sự sống không phải là vật chất (nếu là dòng chảy của riêng thể xác thì vì nó hữu hạn nên có thể thấy ngay là nó đang tuần hoàn như cơn mưa vậy, nhưng trong sự sống còn có yếu tố tinh thần) nên mọi thứ sẽ càng thêm phức tạp, rối bời. Tuy nhiên, dù còn loạng choạng, không vững nhưng ta tin rằng “thế giới không thấy được” này là thế giới vô hạn, là Thượng đế, là Đại vũ trụ, Đại tự nhiên, trải rộng vô cùng và vĩnh cửu. Cho nên nó là cha mẹ của thế giới hữu hạn. Ta biết được rằng, “Thế giới không thấy được” là “thế giới kỳ bí”, là “Vô Lượng Thọ”, “Vô Biên Quang” (Vô Lượng Quang) vượt thời gian và không gian, là thế giới của thái cực, thế giới của thần thánh, thế giới của chân lý, vô hạn, trải rộng vô cùng. Cho nên nó cũng đồng nhất với thế giới vô hạn, thế giới của tinh thần, giấc mơ, cái chết, của KHÔNG, VÔ, HƯ hay Thực tại. 3. BẢN ĐỒ “SINH MẠNG” DO ĐỘI THÁM HIỂM VẼ NÊN - Biểu đồ về thế giới quan của nguyên lý vô song - Đội thám hiểm nguồn gốc sự sống đã dựng trại tại trung tâm của quốc gia vô hạn. Vì là quốc gia vô hạn nên đâu đâu cũng là trung tâm. Rồi dưới ánh đèn dầu lay lắt, họ viết nhật ký thám hiểm, họ vẽ lại bản đồ những vùng đất đã đi qua. Chỉ có ba tấm bản đồ như thế. Nhưng chúng vô cùng đơn giản và dễ hiểu, đến một đứa trẻ cũng có thể hiểu được. Những tấm bản đồ thực sự đơn giản, tường minh, dễ hiểu đến kỳ lạ. Đó là sáu vòng tròn với một số từ được viết trong đó. Vòng tròn chính giữa có màu đỏ, tiếp theo là màu xanh, rồi màu đỏ, tiếp đó là màu xanh rồi bên ngoài lại màu đỏ. Tóm lại, chúng được tô màu lần lượt đỏ, xanh, đỏ xanh, đỏ và ngoài cùng là màu xanh. Bên trong từng vòng tròn đó có viết rất nhiều dòng chữ bé tí và thoạt nhìn, trông như là như một bàn cờ trò chơi của trẻ con vậy. Vậy chúng có ý nghĩa gì nhỉ? Không ai biết về tung tích của đội thảm hiểm sau khi để lại ba tấm bản đồ này. Có lẽ, vì cuộc sống tại “thế giới không thấy được” rất dễ chịu, thoải mái và tự do vô cùng nên họ đã nhập tịch (quy hóa) vào vô hạn. Vì thế, chúng ta phải dựa vào ba tấm bản đồ này để xây dựng vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan. Vậy tóm lại những tấm bản đồ này vốn dĩ muốn nói điều gì đây? Tuy nhiên, khi nhìn kỹ thì thấy trong sáu vòng tròn này, ngoài một số chữ to, rõ như Con người, Mặt đất, Cỏ cây… còn có viết vô số dòng chữ li ti. Vì quả thực không thể phục chế toàn bộ những dòng chữ này nên chỉ có thể phó mặc cho ngòi bút để sao chép và ghi lại một phần mà thôi. Rồi người ta còn tìm thấy một tờ tựa như bản giải thích, trong đó có viết nội dung như sau: Về sự hình thành Đại vũ trụ, thế giới vô hạn 1. Thế giới sự sống có chừng sáu giai đoạn: (1) Con người, (2) Cỏ cây, (3) Mặt đất, (4) Bầu trời, (5) Ánh sáng, (6) Vô hạn. 2. 6 giai đoạn này không tồn tại độc lập, riêng biệt mà luôn hòa trộn, lồng vào trong nhau và cái lớn nhất là Đại vũ trụ vô cùng, hạn giới của nó là vô hình. 3. Ngoài ra, chúng không bằng phẳng mà có hình cầu. Có điều, vì cái to lớn nhất là vô cùng nên không thể nói nó hình cầu hay hình tứ giác. Kích cỡ của nó nằm ngoài phạm vi tư duy của chúng ta. 4. Thế giới lớn hơn luôn đi sâu, thâm nhập vào từng ngóc ngách của thế giới nhỏ hơn. Thế giới nhỏ hơn chỉ chiếm một phần của thế giới lớn hơn. 5. Những thế giới nằm sát nhau luôn luôn mang những đặc điểm đối ngược nhau. Đây dường như là đặc trưng nổi bật trong cấu tạo của vũ trụ, là trật tự của nó. 6. Luôn tồn tại những cặp đối lập như Cái vận động và Cái không vận động (Con người và Cỏ cây), Mặt đất và Bầu trời, Ánh sáng và Bóng tối hoặc Cái không vận động và Cái vận động, Cỏ cây và Mặt đất, Bầu trời và Ánh sáng…