Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước

Đăng ngày 10/16/2019 1:42:45 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 4 | Page: 19 | FileSize: 0.35 M | File type: PDF
Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước. Bài viết trình bày tổng quan cơ sở lý luận về vấn đề cần nghiên cứu: môi trường nước và sự ô nhiễm môi trường nước; giới thiệu về chì; các phương pháp xử lý chì trong nước; các phương pháp xác định chì. Trình bày về mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu; giới thiệu về dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm; nghiên cứu quy trình xây dựng đường chuẩn của Pb2+ theo phương pháp trắc quang; xác định chì bằng phương pháp AAS; tìm hiểu quy trình nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau.
Nghiên
cứu
khả
năng
lắng
đọng
vận
chuyển
của chì
(Pb) trong
môi
trường
nước
Lê Thị Hoa
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Khoa Hóa học
Luận văn ThS Chuyên ngành: Hoá môi trường; Mã số: 60 44 41
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Hồng Côn
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về vấn đề cần nghiên cứu: Môi trường
nước và sự ô nhiễm môi trường nước; Giới thiệu về chì; Các phương pháp
xử lý chì trong nước; Các phương pháp xác định chì. Tiến hành thực
nghiệm: Trình bày về mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu; Giới thiệu
về dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm; Nghiên cứu quy trình xây dựng
đường chuẩn của Pb2+ theo phương pháp trắc quang; Xác định chì bằng
phương pháp AAS; Tìm hiểu quy trình nghiên cứu với các mẫu chì khác
nhau. Trình bày các kết quả nghiên cứu: Khảo sát sự chuyển hóa của chì từ
dạng thải Pb(OH)2
Content
Hiện nay, ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nóng bỏng mang tính
toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người. Đặc
biệt là ô nhiễm các kim loại nặng.
Một trong các kim loại nặng có độc tính cao đối với cơ thể con người là
chì. Chì là kim loại có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất như sản
xuất ăcquy, pin, cáp điện, dệt nhuộm, luyện kim, sản xuất khai thác khoáng
sản.... Do đó lượng chì thải ra môi trường là rất lớn.
nhiều
phương
pháp
xử
chì
như
phương
pháp
kết
tủa,
phương
pháp thẩm thấu ngược hay phương pháp điện thẩm tách... Các phương pháp
này
đều
thải
ra
một
lượng
bùn
thải
rất
lớn
thường
không
được
xử
lý.
Lượng chì thải ra dưới dạng bùn thải này liệu đã an toàn với môi trường hay
chưa? Liệu trải qua một thời gian dài cùng với sự thay đổi môi trường nước có
làm ảnh hưởng đến sự lắng đọng và vận chuyển của chì trong bùn và trong
nước hay không? Đây là một trong những vấn đề rất cấp thiết đối với các nhà
khoa học, môi trường học và của toàn nhân loại. Do đó, trong khuôn khổ luận
văn này chúng tôi thực hiện bước đầu Nghiên cứu khả năng lắng đọng
vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước” ở các điều kiện khác nhau,
từ đó có một cách nhìn khái quát nhất về sự an toàn và nguy hiểm của các
dạng thải chì và bước đầu đề ra các biện pháp tối ưu nhất làm giảm thiểu ô
nhiễm chì trong nước.
Chì là một trong bảy kim loại mà con người đã biết từ thời cổ đại. Ba
bốn ngàn năm trước công nguyên, người cổ Ai cập đã dùng chì để đúc tiền,
đúc tượng và những vật dụng khác.
Quặng chì quan trọng nhất là galenit (PbS), ngoài ra còn gặp chì trong
quặng xeruzit (PbCO3).
Trong
chất sống
(chủ
yếu
thực vật)
chứa khoảng 5.10-5
mg/kg
theo khối lượng khô; trong nước đại dương có khoảng 10-5 mg chì trong 1lit
nước biển; còn trong các mẫu đá lấy từ Mặt Trăng thì hàm lượng chì là 10-
5g/1g mẫu đá.
Trong sản xuất công nghiệp chì có vai trò quan trọng, nhưng đối với
con người và động vật thì nó lại rất độc hại.
Đối với thực vật chì không gây hại nhiều nhưng lượng chì tích tụ trong
cây trồng sẽ xâm nhập vào cơ thể người và động vật qua chuỗi thức ăn. Do
vậy, chì không được dùng làm thuốc trừ sâu.
Chì
kim
loại
muối
sunfua
của
được
coi
không
gây
độc
do
chúng không được cơ thể hấp thụ. Tuy nhiên, các hợp chất chì tan trong nước
thì rất độc.
Khi cơ thể bị nhiễm độc chì sẽ gây ức chế một số enzym quan trọng của
quá trình tổng hợp máu gây cản trở quá trình tạo hồng cầu. Nói chung, chì phá
hủy quá trình tổng hợp hemoglobin và các sắc tố khác cần thiết cho máu như
cytochromes.
Khi hàm lượng chì trong máu đạt khoảng 0,3ppm thì nó ngăn cản quá
trình sử dụng oxi để oxi hóa glucozơ, tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do
đó làm cho cơ thể mệt mỏi. Ở nồng độ cao hơn (> 0,8ppm) có thể gây nên
bệnh thiếu máu do thiếu các sắc tố hồng cầu. Hàm lượng chì trong máu nằm
trong
khoảng 0,5 – 0,8ppm gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy
tế bào não.
Xương là nơi tích tụ chì trong cơ thể, ở đó chì tương tác với photphat
trong xương rồi truyền vào các mô mềm của cơ thể và thể hiện độc tính của
nó.
Tóm lại, khi xâm nhập vào cơ thể động vật chì gây rối loạn tổng hợp
hemoglobin, giảm thời gian sống của hồng cầu, thay đổi hình dạng tế bào, xơ
vữa động mạch, làm cho con người ngu đần, mất cảm giác, gây ra các bệnh về
tai, mũi, họng, viêm phế quản... Khi bị ngộ độc chì sẽ có triệu chứng đau
bụng, buồn nôn, tiêu chảy, ăn không ngon miệng và co cơ, sảy thai, kém sinh
ra tinh trùng...
Trẻ em bị nhiễm độc chì có thể trầm trọng hơn người trưởng thành, đặc
biệt là trẻ em dưới 6 tuổi vì hệ thần kinh còn non yếu và chức năng đào thải
chất độc chưa hoàn thiện. Một số trẻ có thể bị nhiễm ngay từ khi còn trong
bụng mẹ do chì nhiễm qua nhau thai hoặc bú sữa mẹ có hàm lượng chì cao.
Tới khi lớn trẻ em tiêu thụ các loại thực phẩm chứa chì, nuốt chì lẫn trong đất,
bụi khi bò chơi trên mặt đất hoặc ăn các mảnh vụn sơn tường nhà cũ. Do trẻ
em có mức hấp thụ gấp 4-5 lần người lớn. Mặt khác, thời gian bán phân hủy
chì ở trẻ em cũng lâu hơn nhiều so với người lớn. Do đó, trẻ em dưới 6 tuổi và
phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại do
chì gây ra.Để có thể đánh giá một cách tổng quát về khả năng lắng đọng và
vận chuyển của chì trong nước, trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau.
- Mẫu nghiên cứu với dạng kết tủa Pb(OH)2: Dùng pipet hút 1ml Pb2+ chuẩn
1000ppm đã pha ở trên cho vào bình định mức 100ml, sau đó cho thêm nước
cất và các dung dịch HNO3, hoặc dung dịch NaOH 0,1M để điều chỉnh pH rồi
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
4 lần xem

Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước. Bài viết trình bày tổng quan cơ sở lý luận về vấn đề cần nghiên cứu: môi trường nước và sự ô nhiễm môi trường nước; giới thiệu về chì; các phương pháp xử lý chì trong nước; các phương pháp xác định chì. Trình bày về mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu; giới thiệu về dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm; nghiên cứu quy trình xây dựng đường chuẩn của Pb2+ theo phương pháp trắc quang; xác định chì bằng phương pháp AAS; tìm hiểu quy trình nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau..

Nội dung

Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước Lê Thị Hoa Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Khoa Hóa học Luận văn ThS Chuyên ngành: Hoá môi trường; Mã số: 60 44 41 Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Hồng Côn Năm bảo vệ: 2011 Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về vấn đề cần nghiên cứu: Môi trường nước và sự ô nhiễm môi trường nước; Giới thiệu về chì; Các phương pháp xử lý chì trong nước; Các phương pháp xác định chì. Tiến hành thực nghiệm: Trình bày về mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu; Giới thiệu về dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm; Nghiên cứu quy trình xây dựng đường chuẩn của Pb2+ theo phương pháp trắc quang; Xác định chì bằng phương pháp AAS; Tìm hiểu quy trình nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau. Trình bày các kết quả nghiên cứu: Khảo sát sự chuyển hóa của chì từ dạng thải Pb(OH)2 Keywords: Hóa môi trường; Chì; Môi trường nước; Ô nhiễm môi trường Content Hiện nay, ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người. Đặc biệt là ô nhiễm các kim loại nặng. Một trong các kim loại nặng có độc tính cao đối với cơ thể con người là chì. Chì là kim loại có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất như sản xuất ăcquy, pin, cáp điện, dệt nhuộm, luyện kim, sản xuất khai thác khoáng sản.... Do đó lượng chì thải ra môi trường là rất lớn. Có nhiều phương pháp xử lý chì như phương pháp kết tủa, phương pháp thẩm thấu ngược hay phương pháp điện thẩm tách... Các phương pháp này đều thải ra một lượng bùn thải rất lớn và thường không được xử lý. Lượng chì thải ra dưới dạng bùn thải này liệu đã an toàn với môi trường hay chưa? Liệu trải qua một thời gian dài cùng với sự thay đổi môi trường nước có làm ảnh hưởng đến sự lắng đọng và vận chuyển của chì trong bùn và trong nước hay không? Đây là một trong những vấn đề rất cấp thiết đối với các nhà khoa học, môi trường học và của toàn nhân loại. Do đó, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi thực hiện bước đầu “ Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì (Pb) trong môi trường nước” ở các điều kiện khác nhau, từ đó có một cách nhìn khái quát nhất về sự an toàn và nguy hiểm của các dạng thải chì và bước đầu đề ra các biện pháp tối ưu nhất làm giảm thiểu ô nhiễm chì trong nước. Chì là một trong bảy kim loại mà con người đã biết từ thời cổ đại. Ba bốn ngàn năm trước công nguyên, người cổ Ai cập đã dùng chì để đúc tiền, đúc tượng và những vật dụng khác. Quặng chì quan trọng nhất là galenit (PbS), ngoài ra còn gặp chì trong quặng xeruzit (PbCO3). Trong chất sống (chủ yếu là thực vật) có chứa khoảng 5.10-5 mg/kg theo khối lượng khô; trong nước đại dương có khoảng 10-5 mg chì trong 1lit nước biển; còn trong các mẫu đá lấy từ Mặt Trăng thì hàm lượng chì là 10-5g/1g mẫu đá. Trong sản xuất công nghiệp chì có vai trò quan trọng, nhưng đối với con người và động vật thì nó lại rất độc hại. Đối với thực vật chì không gây hại nhiều nhưng lượng chì tích tụ trong cây trồng sẽ xâm nhập vào cơ thể người và động vật qua chuỗi thức ăn. Do vậy, chì không được dùng làm thuốc trừ sâu. Chì kim loại và muối sunfua của nó được coi là không gây độc do chúng không được cơ thể hấp thụ. Tuy nhiên, các hợp chất chì tan trong nước thì rất độc. Khi cơ thể bị nhiễm độc chì sẽ gây ức chế một số enzym quan trọng của quá trình tổng hợp máu gây cản trở quá trình tạo hồng cầu. Nói chung, chì phá hủy quá trình tổng hợp hemoglobin và các sắc tố khác cần thiết cho máu như cytochromes. Khi hàm lượng chì trong máu đạt khoảng 0,3ppm thì nó ngăn cản quá trình sử dụng oxi để oxi hóa glucozơ, tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do đó làm cho cơ thể mệt mỏi. Ở nồng độ cao hơn (> 0,8ppm) có thể gây nên bệnh thiếu máu do thiếu các sắc tố hồng cầu. Hàm lượng chì trong máu nằm trong khoảng 0,5 – 0,8ppm gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy tế bào não. Xương là nơi tích tụ chì trong cơ thể, ở đó chì tương tác với photphat trong xương rồi truyền vào các mô mềm của cơ thể và thể hiện độc tính của nó. Tóm lại, khi xâm nhập vào cơ thể động vật chì gây rối loạn tổng hợp hemoglobin, giảm thời gian sống của hồng cầu, thay đổi hình dạng tế bào, xơ vữa động mạch, làm cho con người ngu đần, mất cảm giác, gây ra các bệnh về tai, mũi, họng, viêm phế quản... Khi bị ngộ độc chì sẽ có triệu chứng đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, ăn không ngon miệng và co cơ, sảy thai, kém sinh ra tinh trùng... Trẻ em bị nhiễm độc chì có thể trầm trọng hơn người trưởng thành, đặc biệt là trẻ em dưới 6 tuổi vì hệ thần kinh còn non yếu và chức năng đào thải chất độc chưa hoàn thiện. Một số trẻ có thể bị nhiễm ngay từ khi còn trong bụng mẹ do chì nhiễm qua nhau thai hoặc bú sữa mẹ có hàm lượng chì cao. Tới khi lớn trẻ em tiêu thụ các loại thực phẩm chứa chì, nuốt chì lẫn trong đất, bụi khi bò chơi trên mặt đất hoặc ăn các mảnh vụn sơn tường nhà cũ. Do trẻ em có mức hấp thụ gấp 4-5 lần người lớn. Mặt khác, thời gian bán phân hủy chì ở trẻ em cũng lâu hơn nhiều so với người lớn. Do đó, trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại do chì gây ra.Để có thể đánh giá một cách tổng quát về khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì trong nước, trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau. - Mẫu nghiên cứu với dạng kết tủa Pb(OH)2: Dùng pipet hút 1ml Pb2+ chuẩn 1000ppm đã pha ở trên cho vào bình định mức 100ml, sau đó cho thêm nước cất và các dung dịch HNO3, hoặc dung dịch NaOH 0,1M để điều chỉnh pH rồi định mức đến vạch. Cho hỗn hợp thu được vào bình tam giác đem lắc trong 2 giờ (thời gian lắc được khảo sát với các mẫu giống nhau ở các thời gian khác nhau thì thấy sau 2 giờ nồng độ chì không thay đổi nữa, hệ đạt trạng thái cân bằng), sau đó lọc bằng giấy lọc băng xanh. Nước lọc đem pha loãng 10 lần rồi làm tương tự mẫu trắng ở phần 2.4. - Mẫu nghiên cứu ảnh hưởng của các ion: Khi xử lý chì bằng xút hoặc nước vôi dưới dạng kết tủa Pb(OH)2 thì pH mà tại đó nồng độ chì nhỏ nhất có giá trị từ 8 – 9. (Sau khi đã khảo sát nồng độ chì theo pH). Do đó chúng tôi đã tiến hành tạo mẫu với các ion tại pH = 8 như sau: hút 1ml dung dịch Pb2+ chuẩn 1000ppm cho vào bình định mức 100ml, cho tiếp dung dịch NaOH 0.1 M vào (thể tích dung dịch NaOH 0.1M cho vào bằng thể tích tạo mẫu chì ở pH = 8 như trên), lắc nhẹ để tạo hết kết tủa, sau đó cho thêm dung dịch ion (Cl-, SO42-, S2-, PO43-, CH3COO- , C6H5O73-) đều có nồng độ 0.01M với thể tích lần lượt là (0,1; 0,5; 1; 5; 10 ml), thêm nước cất hai lần và dung dịch HNO3, hoặc dung dịch NaOH để điều chỉnh pH và định mức đến vạch. Hỗn hợp thu được cho vào bình tam giác và lắc trong 2 giờ rồi làm như mẫu trên. Để xử lý chì bằng phương pháp kết tủa ngoài xử lý dưới dạng kết tủa hydroxit, người ta còn xử lý dưới dạng kết tủa PbS, hoặc Pb3(PO4)2...do đó chúng tôi cũng tiến hành khảo sát với các dạng kết tủa này và quá trình nghiên cứu làm tương tự như với Pb(OH)2. - Mẫu nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến dạng kết tủa PbS: Dùng pipet hút 1ml Pb2+ chuẩn 1000ppm đã pha ở trên cho vào bình định mức 100ml, cho tiếp 10ml dung dịch Na2S 1000ppm vào bình định mức trên, lắc nhẹ để phản ứng hết, sau đó cho thêm HNO3 hoặc NaOH và nước cất vào để điều chỉnh pH theo ý muốn. Cho hỗn hợp vào bình tam giác 250 ml và đem lắc trong 2 giờ. Cuối cùng lọc để loại bỏ kết tủa bằng giấy lọc băng xanh, xác định chì trong nước lọc bằng phương pháp dithizone như ở trên. - Mẫu nghiên cứu ảnh hưởng của các ion: Môi trường nước thải sau khi đã xử lý thường là môi trường trung tính (pH=7). Do đó, khi khảo sát ảnh hưởng của các ion đến khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì từ các dạng thải PbS và Pb3(PO4)2 chúng tôi tiến hành khảo sát ở pH bằng 7. Dùng pipet hút 1ml Pb2+ chuẩn 1000ppm cho vào bình định mức 100ml, cho tiếp 10ml dung dịch Na2S 1000ppm vào, cho thêm một ít dung dịch HNO3 loãng để điều chỉnh pH đến 7, lắc nhẹ bình để phản ứng tạo kết tủa hết, sau đó cho thêm dung dịch ion (Cl-, SO42-, S2-, PO43-, CH3COO- , C6H5O73-) đều có nồng độ 0.01M với thể tích lần lượt là (0,1; 0,5; 1; 5; 10 ml), thêm nước cất hai lần và dung dịch HNO3, hoặc dung dịch NaOH để điều chỉnh pH và định mức đến vạch. Hỗn hợp thu được cho vào bình tam giác và lắc trong 2 giờ rồi làm như mẫu trên. Mẫu khảo sát ảnh hưởng của pH đến độ tan của Pb3(PO4)2 và ảnh hưởng của các ion thực hiện tương tự mẫu nghiên cứu đối với PbS. Khảo sát ảnh hưởng của pH môi trường Đồ thịC - pH 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 0 2 4 6 8 10 12 14 pH Như vậy, nhìn vào đồ thị ta thấy khi dạng thải của chì là Pb(OH)2 thì chì sẽ lắng đọng nếu pH luôn nằm trong khoảng (7.5 - 10), môi trường nước sẽ không bị ô nhiễm chì. Còn nếu pH > 10 hoặc pH < 7.5 thì chì sẽ vận chuyển trong môi trường nước và phát tán ra môi trường gây ô nhiễm. Vậy xử lý chì dưới dạng kết tủa hydroxit thì pH phải nằm trong khoảng 7.5-10 (trong khoảng pH này thì nồng độ chì < 0,1 đạt TCVN 2005). Khảo sát ảnh hưởng của các ion đến độ tan của Pb(OH)2 tại pH = 7 Ion Cl- 0.045 0.04 0.035 0.03 0.025 0.02 0.015 0.01 0.005 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ Cl-*10-5(M) Như vậy ion Cl- không làm phát tán chì trong nước gây ô nhiễm. Ion SO42- 0.045 0.04 0.035 0.03 0.025 0.02 0.015 0.01 0.005 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ (SO4)2-*10-5(M) Như vậy, SO42- không làm vận chuyển cũng như ít ảnh hưởng đến sự lắng đọng chì. Ion S2- 0.005 0.0045 0.004 0.0035 0.003 0.0025 0.002 0.0015 0.001 0.0005 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ S2-*10-5(ppm) Kết quả cho thấy khi có mặt ion S2- nồng độ chì luôn < 0.01ppm. Như vậy nếu trong nước có ion S2- chì sẽ lắng đọng và không phát tán ra môi trường gây ô nhiễm. Ion PO43 0.016 0.014 0.012 0.01 0.008 0.006 0.004 0.002 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ (PO4)3-*10-5(M) Như vậy khi có mặt ion photphat thì nồng độ chì tại pH = 8 luôn nhỏ hơn khi không có mặt ion này và nhỏ hơn nhiều so với 0.1ppm. Tức là khi có mặt ion photphat chì sẽ lắng đọng xuống bùn và không bị vận chuyển trong nước gây ô nhiễm môi trường. Kết quả cho thấy nếu cây trồng trong vùng bị ô nhiễm chì ta bón phân lân để hạn chế nhiễm độc chì. 0.045 0.04 0.035 0.03 Cl-0.025 SO42- 0.02 S2-0.015 PO43- 0.01 0.005 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ các ion*10-5(M) Ảnh hưởng đồng thời của các ion Cl-, SO42-, S2-, PO43 0.0045 0.004 0.0035 0.003 0.0025 0.002 0.0015 0.001 0.0005 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ mỗi ion*10-5(M) Ion CH3COO- 0.09 0.08 0.07 0.06 0.05 0.04 0.03 0.02 0.01 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ CH3COO-*10-5(M) Ion Cit3- 1.6 1.4 1.2 1 0.8 0.6 0.4 0.2 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ Cit3- *10-5 (M) Kết quả khảo sát cho thấy khi nồng độ Cit3- tăng lên thì nồng độ chì cũng tăng lên rất nhiều, vượt quá ngưỡng cho phép theo TCVN 2005. Lượng chì tan ra sẽ bị khuếch tán rộng ra các vùng lân cận gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Như vậy, ion citrat làm vận chuyển mạnh chì khi dạng thải của chì là Pb(OH)2. Nếu các nhà máy sản xuất có liên quan đến chì mà xử lý dưới dạng kết tủa hydroxit chì thì phần bùn thải không được tiếp xúc với phần nước thải của các nhà máy sản xuất bánh kẹo hương vị chanh, nước giải khát.... Ảnh hưởng đồng thời của các ion Cl-, SO42-, S2-, PO43-, CH3COO- , Cit3- 0.006 0.005 0.004 0.003 0.002 0.001 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ mỗi ion*10-5(M) Như vậy, ion S2- có mặt trong nước sẽ quy định dạng tồn tại của chì. Chì hydroxit thải ra sau quá trình xử lý sẽ lắng đọng dưới bùn nếu môi trường nước không thay đổi. Tuy nhiên, thực tế môi trường nước luôn thay đổi sẽ làm chì lắng đọng hoặc vận chuyển. Khảo sát sự chuyển hóa của chì khi dạng thải là PbS Khảo sát ảnh hưởng của pH 0.012 0.01 0.008 0.006 0.004 0.002 0 0 2 4 6 8 10 12 14 pH Như vậy pH không gây ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của PbS. Hay nói cách khác dạng kết tủa này hầu như không gây ô nhiễm cho nguồn nước khi pH thay đổi. Ion Cl- 0.012 0.01 0.008 0.006 0.004 0.002 0 0 20 40 60 80 100 120 Nồng độ Cl-*10-5 (M) Như vậy từ kết quả khảo sát ta thấy ion Cl- không ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của PbS, không làm phát tán chì gây ô nhiễm môi trường. Ion SO42-

Tài liệu liên quan