Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo đồng Sunfua

Đăng ngày 10/16/2019 1:38:50 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 2 | Page: 23 | FileSize: 0.54 M | File type: PDF
Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo đồng Sunfua. Bài viết tổng quan về kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo động Sunfua, quặng Sunfua; tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận và các khu vực khai thác quặng; ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và cơ thể sống. Quá trình kết tủa, cộng kết, hấp phụ của các nguyên tố kim loại nặng; nghiên cứu khả năng phong hoá giải phóng các kim loại nặng trên mô hình bãi thải, đuôi quặng nghèo Chalcopyrit trong điều kiện ngập nước.
Nghiên
cứu
khả
năng
giải
phóng
kim loại
nặng
từ
các bãi
thải,
đuôi
quặng
nghèo
đồng
sunfua
Vũ Văn Tùng
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên;
Chuyên ngành: Hoá môi trường; Mã số: 60 44 41
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Hồng Côn
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Tổng quan về kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo động
sunfua: Quặng sunfua; Tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận và các khu vực khai
thác quặng; Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và cơ thể sống. Tiến
hành thực nghiệm. Trình bày kết quả và thảo luận: Quá trình kết tủa, cộng kết, hấp
phụ của các nguyên tố kim loại nặng; Nghiên cứu khả năng phong hoá giải phóng
các kim loại nặng trên mô hình bãi thải, đuôi quặng nghèo chalcopyrit trong điều
kiện ngập nước; Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ quặng nghèo
chalcopyrite trong điều kiện xung; So sánh khả năng giải phóng kim loại từ hai
điều kiện phong hoá các bãi thải, đuôi quặng nghèo chalcopyrite.
Keywords: Hóa môi trường; Kim loại nặng; Đồng sunfua; Xử lí chất thải; Ô nhiễm
môi trường
Content.
Việc khai thác khoáng sản ở nướcta còn nhiều bất cập do trình độ quản lý, ý
thức của con người cũng như công nghệ khai thác còn non kém và lạc hậu nên đã và
đang để lại những hệ luỵ xấu cho môi trường.
Đa số các mỏ hiện nay khai thác phần lớn là bán thu công,chỉ lấy các phần quặng
giàu, bỏ đi toàn bộ các phần quặng nghèo và khoáng sản đi cùng. Đây là một
nguyên nhân quan trọng gây ảnh hưởng nặng nề môi trường xung quanh.
Kim loại nặng trong môi trường có khả năng gây độc ở liều lượng thấp và
tích luỹ lâu dài trong chuỗi thức ăn.
Việc nghiên cứu khả năng giải phóng và cơ chế chuyển hoá của các kim loại
nặng từ các bãi thải quặng do đó đã trở nên bức xúc và có ý nghĩa quan trọng.
1
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Quặng sunfua
1.1.1. Đặc điểm chung
Hiện nay, số lượng các khoáng vật sulfua và các hợp chất tương tự được tìm
thấy lên tới 350. Theo tính toán của Vernadsky, chúng chiếm 0,15% trọng lượng
toàn bộ vỏ Trái đất. Hầu hết khoáng vật sulfua có màu và đó là đặc điểm để xác
định khoáng vật. Sulfua chủ yếu có nguồn gốc nhiệt dịch. Ngoài ra, sulfua còn được
thành tạo trong quá trình magma, đôi khi trong điều kiện ngoại sinh, trong đới làm
giàu sulfua thứ sinh và trong trầm tích. Sulfua còn có mặt trong thiên thạch và đá
Mặt Trăng.
1.1.2. Một số quặng đồng sulfua
1.1.2.1. Chalcosin
1.1.2.2. Chalcopyrit CuFeS2
1.1.2.3. Stanin Cu2FeSnS4
1.1.2.4. Bornit Cu5FeS4
1.2.2.5. Enargit Cu3[AsS4]
1.1.2.6. Tenantit Cu6+Cu62+As4S13 tetrahedrit Cu6+Cu62+Sb4S13
1.1.2.7. Covelin Cu2+Cu2+S[S2]
1.2.3. Trữ lượng phân bố quặng sulfua Việt Nam
Quặng đồng sulfua ở nước ta thuộc vào 4 loại có nguồn gốc khác nhau là:
magma, thuỷ nhiệt, trầm tích, biến chất. Quặng đồng phân tán ở các tỉnh Cao Bằng,
Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng,
Hoà Bình....Các mỏ quặng đồng ở những tỉnh này thường có trữ lượng nhỏ, thành
phần
khoáng
đa
dạng,
bao
gồm
nhiều
loại
như
quặng
sulfua,
cacbonat,
nhưng
thường gặp là quặng chalcopyrit. Tổng trữ lượng các quặng đã thăm dò ước đạt
khoảng 600.000 tấn.
1.2. Tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận các khu vực khai thác
quặng
1.2.1. Tại Việt Nam
Mặc dù đóng góp của nền công nghiệp khai khoáng vào GDP của Việt Nam
chiếm khoảng 11% nhưng công nghiệp khai khoáng đang đứng trước nhiều thách
2
thức: khai thác sử dụng chưa có hiệu quả làm cho tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt;
đặc biệt tác động xấu tới cảnh quan và môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, không
khí, đất đai, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và nhiều nghành kinh tế khác.
. 1.2.2. Trên thế giới
Năm 2008, Manfred Felician Bitala đã nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng
được tích luỹ trong đất và cây trồng từ mỏ vàng ở Geita, Tanzanian cho thấy tất cả
các mẫu nghiên cứu đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể, trong các mẫu đất nồng
độ của Hg vượt quá tiêu chuẩn là 6.606 lần, trong khi As vượt quá tiêu chuẩn 36
lần, các kim loại khác đều vượt quá trong khoảng từ 42 – 232 lần. Trong các mẫu
cây trồng, nồng độ của Hg vượt quá tiêu chuẩn cho phép 9.607 lần, Cd vượt quá
tiêu chuẩn cho phép là 3 lần. Các kim loại khác có nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cho
phép trong khoảng từ 40 – 5682 lần.
1.3. Quá trình phong h quặng sulfua
1.3.1. Quá trình phong hoá
Dưới sự tác động của nước, các chất khí như O2, CO2... và nguồn năng lượng
bc xmt trời, các khoáng vật và đá lộ ra ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Ðất bị phá
huỷ. Quá trình phá huỷ khoáng vật và đá được gọi là quá trình phong hoá. Có 3 loại
phong hoá đá và khoáng vật là phong hoá vật lý, phong hoá hoá học và phong hoá
sinh hc. Sự phân chia các loại phong hoá chỉ là tương đối vì trong thực tế các yếu
tngoi cảnh đồng thời tác động lên đá và khoáng vật, do vy 3 loại phong hoá
đồng thời cùng diễn ra. Các quá trình phong hoá liên quan mật thiết và hỗ trcho
nhau, tuỳ điều kin cthể mà một trong 3 quá trình xảy ra mạnh hơn.
1.3.1.1. Phong hoá vật
Phong hoá vật lý là sự vvn của các loại đá thành các hạt cơ giới có kích
thước khác nhau nhưng chưa có sự thay đổi về thành phần khoáng vật, thành phần
hoá học của các đá ban đầu.
1.3.1.2. Phong hoá hoá học
Quá trình phong hoá do tác dụng của các tác nhân hoá học không chỉ làm
cho đá vỡ vụn mà còn có thể làm cho thành phần hoá học của khoáng vật và đá thay
đổi. Các yếu tố như H2O, O2, CO2... tác động lên các khoáng vật và đá làm cho
chúng bị phá huỷ, thay đổi về hình dạng, kích thước, thành phần và tính chất hoá
3
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
2 lần xem

Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo đồng Sunfua. Bài viết tổng quan về kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo động Sunfua, quặng Sunfua; tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận và các khu vực khai thác quặng; ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và cơ thể sống. Quá trình kết tủa, cộng kết, hấp phụ của các nguyên tố kim loại nặng; nghiên cứu khả năng phong hoá giải phóng các kim loại nặng trên mô hình bãi thải, đuôi quặng nghèo Chalcopyrit trong điều kiện ngập nước..

Nội dung

Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo đồng sunfua Vũ Văn Tùng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Chuyên ngành: Hoá môi trường; Mã số: 60 44 41 Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Hồng Côn Năm bảo vệ: 2011 Abstract: Tổng quan về kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo động sunfua: Quặng sunfua; Tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận và các khu vực khai thác quặng; Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và cơ thể sống. Tiến hành thực nghiệm. Trình bày kết quả và thảo luận: Quá trình kết tủa, cộng kết, hấp phụ của các nguyên tố kim loại nặng; Nghiên cứu khả năng phong hoá giải phóng các kim loại nặng trên mô hình bãi thải, đuôi quặng nghèo chalcopyrit trong điều kiện ngập nước; Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ quặng nghèo chalcopyrite trong điều kiện xung; So sánh khả năng giải phóng kim loại từ hai điều kiện phong hoá các bãi thải, đuôi quặng nghèo chalcopyrite. Keywords: Hóa môi trường; Kim loại nặng; Đồng sunfua; Xử lí chất thải; Ô nhiễm môi trường Content. Việc khai thác khoáng sản ở nướcta còn nhiều bất cập do trình độ quản lý, ý thức của con người cũng như công nghệ khai thác còn non kém và lạc hậu nên đã và đang để lại những hệ luỵ xấu cho môi trường. Đa số các mỏ hiện nay khai thác phần lớn là bán thu công,chỉ lấy các phần quặng giàu, bỏ đi toàn bộ các phần quặng nghèo và khoáng sản đi cùng. Đây là một nguyên nhân quan trọng gây ảnh hưởng nặng nề môi trường xung quanh. Kim loại nặng trong môi trường có khả năng gây độc ở liều lượng thấp và tích luỹ lâu dài trong chuỗi thức ăn. Việc nghiên cứu khả năng giải phóng và cơ chế chuyển hoá của các kim loại nặng từ các bãi thải quặng do đó đã trở nên bức xúc và có ý nghĩa quan trọng. 1 Chương 1. TỔNG QUAN 1.1. Quặng sunfua 1.1.1. Đặc điểm chung Hiện nay, số lượng các khoáng vật sulfua và các hợp chất tương tự được tìm thấy lên tới 350. Theo tính toán của Vernadsky, chúng chiếm 0,15% trọng lượng toàn bộ vỏ Trái đất. Hầu hết khoáng vật sulfua có màu và đó là đặc điểm để xác định khoáng vật. Sulfua chủ yếu có nguồn gốc nhiệt dịch. Ngoài ra, sulfua còn được thành tạo trong quá trình magma, đôi khi trong điều kiện ngoại sinh, trong đới làm giàu sulfua thứ sinh và trong trầm tích. Sulfua còn có mặt trong thiên thạch và đá Mặt Trăng. 1.1.2. Một số quặng đồng sulfua 1.1.2.1. Chalcosin 1.1.2.2. Chalcopyrit CuFeS2 1.1.2.3. Stanin Cu2FeSnS4 1.1.2.4. Bornit Cu5FeS4 1.2.2.5. Enargit Cu3[AsS4] 1.1.2.6. Tenantit Cu6+Cu62+As4S13 và tetrahedrit Cu6+Cu62+Sb4S13 1.1.2.7. Covelin Cu2+Cu2+S[S2] 1.2.3. Trữ lượng và phân bố quặng sulfua ở Việt Nam Quặng đồng sulfua ở nước ta thuộc vào 4 loại có nguồn gốc khác nhau là: magma, thuỷ nhiệt, trầm tích, biến chất. Quặng đồng phân tán ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Hoà Bình....Các mỏ quặng đồng ở những tỉnh này thường có trữ lượng nhỏ, thành phần khoáng đa dạng, bao gồm nhiều loại như quặng sulfua, cacbonat, nhưng thường gặp là quặng chalcopyrit. Tổng trữ lượng các quặng đã thăm dò ước đạt khoảng 600.000 tấn. 1.2. Tình trạng ô nhiễm tại các vùng lân cận và các khu vực khai thác quặng 1.2.1. Tại Việt Nam Mặc dù đóng góp của nền công nghiệp khai khoáng vào GDP của Việt Nam chiếm khoảng 11% nhưng công nghiệp khai khoáng đang đứng trước nhiều thách 2 thức: khai thác sử dụng chưa có hiệu quả làm cho tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; đặc biệt tác động xấu tới cảnh quan và môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và nhiều nghành kinh tế khác. . 1.2.2. Trên thế giới Năm 2008, Manfred Felician Bitala đã nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng được tích luỹ trong đất và cây trồng từ mỏ vàng ở Geita, Tanzanian cho thấy tất cả các mẫu nghiên cứu đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể, trong các mẫu đất nồng độ của Hg vượt quá tiêu chuẩn là 6.606 lần, trong khi As vượt quá tiêu chuẩn 36 lần, các kim loại khác đều vượt quá trong khoảng từ 42 – 232 lần. Trong các mẫu cây trồng, nồng độ của Hg vượt quá tiêu chuẩn cho phép 9.607 lần, Cd vượt quá tiêu chuẩn cho phép là 3 lần. Các kim loại khác có nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong khoảng từ 40 – 5682 lần. 1.3. Quá trình phong hoá quặng sulfua 1.3.1. Quá trình phong hoá Dưới sự tác động của nước, các chất khí như O2, CO2... và nguồn năng lượng bức xạ mặt trời, các khoáng vật và đá lộ ra ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Ðất bị phá huỷ. Quá trình phá huỷ khoáng vật và đá được gọi là quá trình phong hoá. Có 3 loại phong hoá đá và khoáng vật là phong hoá vật lý, phong hoá hoá học và phong hoá sinh học. Sự phân chia các loại phong hoá chỉ là tương đối vì trong thực tế các yếu tố ngoại cảnh đồng thời tác động lên đá và khoáng vật, do vậy 3 loại phong hoá đồng thời cùng diễn ra. Các quá trình phong hoá liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau, tuỳ điều kiện cụ thể mà một trong 3 quá trình xảy ra mạnh hơn. 1.3.1.1. Phong hoá vật lý Phong hoá vật lý là sự vỡ vụn của các loại đá thành các hạt cơ giới có kích thước khác nhau nhưng chưa có sự thay đổi về thành phần khoáng vật, thành phần hoá học của các đá ban đầu. 1.3.1.2. Phong hoá hoá học Quá trình phong hoá do tác dụng của các tác nhân hoá học không chỉ làm cho đá vỡ vụn mà còn có thể làm cho thành phần hoá học của khoáng vật và đá thay đổi. Các yếu tố như H2O, O2, CO2... tác động lên các khoáng vật và đá làm cho chúng bị phá huỷ, thay đổi về hình dạng, kích thước, thành phần và tính chất hoá 3 học. Có thể nói, phong hoá hoá học chính là các phản ứng hoá học diễn ra do sự tác động của H2O, O2, CO2 lên đá và khoáng vật. 1.3.1.3. Phong hoá sinh học Bản chất của phong hoá sinh học là phong hoá vật lý và hoá học do sự tác động của sinh vật lên khoáng vật và đá. 1.3.2. Khái quát quá trình biểu sinh các mỏ sulfua Tác nhân chủ yếu gây ra biến đổi biểu sinh các sulfua là O2, CO2, H2O. Khí quyển có thành phần trung bình gồm: 75,5%N2, 23% O2, 0,04% CO2, nhưng thành phần khí hoà tan trong nước mưa thì khác: 60% N2, 30% O2, 10% CO2. 1.3.3. Oxi hoá các khoáng vật đồng sulfua Trong điều kiện lý hoá ở mặt đất các oxit và cacbonat đồng chỉ bền vững khi pH > 6,8. Độ hoà tan của các hợp chất này tăng lên theo độ axit của môi trường. Khi pH < 6,8 thì Cu trở thành nguyên tố linh động. Trong mỏ quặng, các sulfua đồng thường cộng sinh với pyrit. Pyrit bị oxi hoá như sau 4FeS2 + 15O2 + 14H2O → 4Fe(OH)3 + 8SO42- + 16H+ Axit H2SO4 và Fe3+ được giải phóng ra trong quá trình oxi hoá sulfua sắt có thể tác dụng lên các khoáng vật sulfua khác và đẩy nhanh quá trình phân huỷ chúng theo phản ứng MS + H2SO4 → H2S + MSO4 2MS + 2Fe2(SO4)3 + 2H2O + 3O2 → 2MSO4 + 4FeSO4 + 2H2SO4 (M là các kim loại hoá trị hai: Cu, Pb, Zn...) 1.4. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và cơ thể sống Kim loại là nguồn tài nguyên có giá trị. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp kiểm soát thích hợp trong khai thác và tinh chế mỏ được thực hiện thì thiệt hại môi trường nghiêm trọng có thể xảy ra. Các kim loại nặng có tính năng phổ biến trong môi trường là chúng có xu hướng tích luỹ trong cơ thể sinh vật mà ăn phải chúng. Khai thác và chế biến mỏ có thể tăng tỉ lệ kim loại thoát ra khỏi khoáng đá cùng với đó là thải kim loại vào môi trường. Kim loại nặng, thậm chí một lượng nhỏ dạng vết có thể gây độc đối với con người và động vật hoang dã. 1.5. Giới thiệu một số kim loại nặng và ảnh hưởng của chúng lên cơ thể sống và con người 4 1.5.1. Asen 1.5.2. Cadmi 1.5.3. Chì 1.5.4. Coban 1.5.5. Crom 1.5.6. Đồng 1.5.7. Kẽm 1.5.8. Mangan 1.5.9. Niken 1.5.10. Sắt Chương 2. THỰC NGHIỆM 2.1. Đối tượng nghiên cứu Để góp phần tìm hiểu về hiện tượng ô nhiễm các kim loại nặng trong môi trường các bãi thãi, đuôi quặng nghèo đồng sulfua, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quặng chalcopyrit. 2.2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu khả năng phong hoá giải phóng kim loại nặng từ quặng nghèo chalcopyrit ra môi trường trong điều kiện ngập nước và xung (thấm nước). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phong hoá và các quá trình tương tác biến đổi và chuyển hoá của các sản phẩm sau phong hoá. 2.3. Cơ sở phương pháp luận Các nguyên tố kim loại nặng giải phóng vào môi trường nước theo nhiều cách khác nhau. Trong đó có nguồn từ quá trình phong hoá các bãi thải, đuôi quặng nghèo tại các khu vực khai thác quặng và sự hoà tan của các sản phẩm tạo thành sau quá trình phong hoá vào môi trường nước. 2.4. Danh mục hoá chất, thiết bị cần thiết cho nghiên cứu 2.5. Thực nghiệm 2.5.1. Thiết kế thiết bị nghiên cứu a. Thiết bị cho quá trình phong hoá giải phóng kim loại nặng từ bãi thải, đuôi quặng nghèo trong điều kiện ngập nước 5 Để nghiên cứu quá trình giải phóng kim loại nặng từ bãi thải, đuôi quặng nghèo trong điều kiện ngập nước (mô phỏng quá trình giải phóng kim loại khi bãi thải đuôi quặng nghèo đồng sulfua ngập nước trong các ao, hồ), chúng tôi đã tiến hành lắp đặt thiết bị nghiên cứu như hình 2.1. Nước được cho vào trong cột để quặng luôn bị ngập nước, nước sau khi chảy qua, lấy đi phân tích, phần còn lại cho vào bình đựng nước rồi tiếp tục lại cho trở lại cột. Mẫu nước được lấy ra ở van 1 ở cùng một thời điểm như nhau, cứ hai ngày lấy mẫu một lần. Bảng 2.3. Thành phần nước mưa Thành phần Ca2+ Mg2+ K+ Nồng độ 5,6 2,7 4,1 (mg/l) Na+ Cl- Cacbonat NO3- 4,4 9,2 18,3 4,44 SO42- NH4+ 3,29 0,75 Hình 2.1. Thiết bị cho quá trình phong hoá giải phóng kim loại trong điều kiện ngập nước Kết quả phân tích thành phần quặng chalcopyrit : Cu : 2,87%; Fe : 13,65% và các thành phần kim loại khác có hàm lượng < 1% Vật liệu nạp trong cột 6 - Cát sạch : 2,0 kg - Quặng chalcoprit : 80 g b. Thiết bị cho quá trình phong hoá trong điều kiện xung Thiết bị nghiên cứu tương tự phần ngập nước, pha nước có thành phần tương tự nước mưa tự nhiên cho thấm qua lớp quặng từ trên xuống dưới. Mẫu được lấy theo thời gian như nhau với cùng một lượng sau khi thấm qua lớp quặng để phân tích hàm lượng kim loại nặng được giải phóng. 2.6. Phương pháp nghiên cứu 2.6.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH và nồng độ sắt(II) đến khả năng cộng kết – hấp phụ các kim loại nặng lên sắt(III) hydroxit 2.6.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ sắt(II) ban đầu 2.6.1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH 2.6.2. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phong hoá trong điều kiện bãi thải, đuôi quặng nghèo ngập nước 2.6.3. Lấy mẫu và phân tích 2.6.3.1. Xác định hàm lượng kim loại nặng 2.6.3.2. Xác định hàm lượng sulfat bằng phương pháp đo độ đục Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Quá trình kết tủa, cộng kết, hấp phụ của các nguyên tố kim loại nặng 3.1.1. Quá trình oxi hoá - thuỷ phân và các dạng kết tủa của sắt Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Dung đã nghiên cứu trong môi trường trung tính pH ≈ 7, khi có mặt oxi không khí, sắt(II) sẽ bị oxi hoá lên sắt(III) và tiếp theo sắt(III) sẽ bị thuỷ phân tạo thành sắt(III)hydroxit kết tủa. Kết quả cho thấy, sau thời gian sục khí 30 phút với giá trị DO không nhỏ hơn 8 mg/l thì sắt(II) bị oxi hoá gần như hoàn toàn lên sắt(III)hydroxit. 3.1.2. Khảo sát ảnh hưởng nồng độ sắt(II) đến khả năng tách loại một số kim loại nặng Zn, Cu, Pb, As, Cd, Mn Bảng 3.1. Kết quả khảo sát ảnh hưởng nồng độ Fe(II) đến khả năng tách loại ion của các kim loại Zn, Cu, Pb, As, Cd, Mn. [Fe2+] ban đầu mg/l % Zn(II) bị tách % Cu(II) bị tách % Pb(II) bị tách % As(V) %Cd(II) bị tách bị tách %Mn(II) bị tách 7 loại 10 82,12 15 84,67 20 85,87 25 88,94 loại loại 97,8 99,45 98,9 99,64 99,5 99,69 99,8 99,73 loại loại loại 94,62 61,63 60,5 95,34 62,32 60,7 97,8 63,58 60,6 98,7 65,73 60,3 120 100 80 60 40 20 0 10 15 20 25 Zn Cu Pb As Cd Mn Nồng độ Fe(II) ban đầu Hình 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ Fe(II) đến hiệu suất tách loại ion của các kim loại Zn, Cu, Pb, As, Cd, Mn 3.1.3. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng tách loại một số kim loại nặng Zn, Cu, Pb, As, Cd, Mn Bảng 3.2. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng tách loại Zn, Cu, Pb, As, Cd, Mn. pH Nồng độ Fe2+ mg/l 3,0 11,19 4,0 8,73 5,5 0,325 7,0 0,12 %Zn(II)

Tài liệu liên quan