Thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc trung học cơ sở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Đăng ngày 5/19/2019 1:36:05 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 28 | Page: 9 | FileSize: 0.53 M | File type: PDF
Thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc trung học cơ sở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL (Social and Emotional Learning) vào hoạt động giáo dục ở bậc Trung học cơ sở cho thấy chỉ đạt mức trung bình, ảnh hưởng đáng kể đến thực trạng năng lực SEL của học sinh Trung học cơ sở. Vì vậy, đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần được tạo điều kiện để tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở trường Trung học cơ sở.
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S12 - 2019
ISSN 2354-1482
THC TRNG NG DỤNG HÌNH GIÁO DỤC
NĂNG LỰC CẢM XÚC HỘI SEL CỦA GIÁO VIÊN VÀO
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BC TRUNG HỌC SỞ
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ H CHÍ MINH
Huỳnh Văn Sơn1
Nguyn Th T1
TÓM TẮT
Kết qu nghiên cứu thc trng ng dụng hình giáo dục năng lực cảm xúc
hi SEL (Social and Emotional Learning) vào hoạt động giáo dục bc Trung hc
sở cho thy ch đạt mức trung bình, ảnh hưởng đáng kể đến thc trạng năng lực
SEL ca hc sinh Trung học sở. vậy, đội ngũ giáo viên Trung học sở cn
được tạo điều kiện để tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu ng dụng hình giáo dục
năng lực cảm xúc hội SEL vào hoạt động giáo dục trường Trung học sở.
T khóa: Thc trng, ng dụng hình SEL, giáo viên, hoạt động giáo dục,
trung học sở
1. Đặt vn đề
an, trong vòng 6 năm (2007 - 2013), c
Hoạt
động
giáo
dục
điều
kin
nước đã xảy ra 63.600 vụ án hình sự do
quan trọng để hình thành thái độ, rèn
trvị thành niên gây ra, với 94.300 đối
luyện hành vi, kỹ năng xã hội cho hc
tượng là trẻ phm tội, tăng gần 4.300
sinh. Nói cách khác, hoạt động giáo dục
vụ án so với 6 năm trước đó, số ti
có vị trí rất quan trng trong vic thc
phm vị thành niên càng trẻ hóa. Trong
hin nhim vdạy người ở nhà trường
tng s94.300 ti phm vị thành niên
hin nay. Theo Rahul
Rathore, quyn
nói trên, số trẻ dưới 14 tui phm ti
giáo dục là một quyền cơ bản, trem
chiếm ti 13%, trtừ 14 đến 16 tui
đến mười bn tui phải đi học và không
phm ti chiếm ti 34,7%. Thống kê
nên đi làm, sử dụng lao động trẻ em là
trên cũng cho biết thêm, có đến trên
một hành vi phạm pháp (Rahul Rathore,
70% số đối tượng trong tng s94.300
2018) [1]. Theo tác giả Rishav Mohta,
đối tượng vị thành niên phạm tội là ở
một người có tri thức có khả năng phân
các thành phố, thị xã, còn ở nông thôn
bit giữa đúng và sai, thiện và ác. Đó là
chchiếm 24% [3].
trách nhiệm hàng đầu của xã hội để giáo
Thc
trạng
trên
đòi
hỏi
các
nhà
dục công dân một cách hiệu qu(Spilt,
nghiên cứu, các nhà giáo dục phi n
J. L., Koomen, H. M., & Thijs, J. T.,
lực hơn nữa trong việc tìm tòi những
2011) [2].
biện pháp nâng cao hiệu quca hot
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động
động
giáo
dục,
nhm
bồi
dưỡng
đạo
giáo
dục
đạo
đức,
li
sng
cho
hc
đức, li sng, kỹ năng cho học sinh nói
sinh, đặc biệt là ở bc Trung học cơ sở
chung và học sinh THCS nói riêng. Mô
(THCS) chưa đạt được hiu quả như
hình SEL khẳng định tính hiệu qukhi
mong đợi. Theo báo cáo của Ban ch
áp
dụng
vào
môi
trường
học
đường,
đạo Đề án “Đấu tranh phòng, chống ti
SEL giúp người hc học cách nhận biết
phạm xâm hại trẻ em và tội phm trong
và quản lý cảm xúc của mình, quan tâm
la tuổi chưa thành niên” của Bộ Công
đến người khác, ra quyết định đúng đắn,
1Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Email: sonhuynhts@gmail.com
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S12 - 2019
ISSN 2354-1482
cư xử một cách có đạo đức và trách
55% và 45% là giáo viên nữ - 63 khách
nhiệm, phát triển nhng mi quan h
thể; độ tuổi chia thành các nhóm gồm:
tích cực, và tránh những hành vi tiêu
từ 20 đến 30 tui chiếm 43%, từ 31 đến
cc (Goleman, D., 1995) [4].
40 tui chiếm 28,3%, từ 41 đến 50 tui
SEL ca học sinh THCS không thể
chiếm 26,4%, từ 51 đến 60 tui chiếm
tự nhiên phát
triển.
Mt
trong nhng
2,3%.
V
thâm
niên,
số
năm
kinh
nhân tố tác động có ảnh hưởng quan
nghim dy hc ở trường THCS chia
trọng đến học
sinh
THCS
đó là giáo
thành các nhóm: từ 1 đến 3 năm chiếm
viên. Vậy thc trng ng dụng mô hình
53,6%, từ 4 đến 5 năm chiếm 20,7%,
giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL
của giáo viên vào hoạt động giáo dục
bậc THCS địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh như thế nào. Câu hỏi này cần
được gii quyết.
2. Gii quyết vấn đề
2.1. Khách thể nghiên cứu
phương pháp nghiên cứu
Thực trạng ứng dụng mô hình giáo
dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của
giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc
THCS được phân tích trên bình diện
chung có nhấn mạnh vào việc ứng dụng
mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã
hội SEL của giáo viên vào hoạt động
giáo dục kỹ năng sống dành cho học
sinh THCS như một trong những nội
dung có liên quan đến vấn đề tìm ra
nguyên nhân của thực trạng năng lực
cảm xúc xã hội SEL của học sinh THCS
đã phân tích ở trên.
Để có thể đánh giá thực trạng ứng
dụng mô hình giáo dục năng lực cảm
xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt
động giáo dục ở bậc THCS, chúng tôi
la chọn giáo viên THCS tham gia
nghiên cứu dựa trên phương pháp chọn
mu thun tin với 140 giáo viên đồng
thuận tham gia nghiên cứu vthc
trạng năng lực giáo dục cảm xúc và xã
hi (SEL) ca hc sinh THCS Vit
Nam. Giáo viên THCS tham gia cuộc
từ 6 đến 8 năm chiếm 21,3%, từ 9 năm
đến 12 năm chiếm 4,4%. Trong đó,
15,7% giáo viên có trình độ cao đẳng,
84,3% giáo viên có trình độ đại hc tr
lên. Để đảm bảo khách thể tham gia
đến từ các bối cảnh khác nhau không
có sự khác biệt đáng kể về ý nghĩa ở
biến nghiên cứu chính, tiến hành thực
hiện so sánh giữa các trường khác
nhau. Những so sánh này cho thấy
không có sự khác biệt đáng kể giữa các
khách thể tham gia nghiên cứu vì thế
nhóm mẫu có thể mang tính nhất quán.
Dliệu được được thu thp tại các
trường THCS tại thành phố Hồ Chí
Minh bao gm: trường THCS Phan Sào
Nam, trường THCS Hai Bà Trưng,
trường THCS Đồng Khởi và trường
Kiến Thiết. Để thu được sliệu khách
quan, nhóm nghiên cứu tiến hành giới
thiệu cho khách thể khảo sát về mục đích
nghiên cứu là đánh giá thực trng thc
trạng năng lực SEL ca hc sinh THCS
Việt Nam và sự tham gia này là tự
nguyện và ẩn danh. Có 170 phiếu kho
sát được phát ra và 140 phiếu được tr
lời đầy đủ và gửi lại cho nhóm nghiên
cu, vi tltchối là 0,0%, tlphiếu
trlời chưa đạt là 16,7% và tlphiếu
đạt yêu cầu là 83,3%. Thời gian hoàn
thành bng hi trung bình 15 phút.
điều tra gồm 77 giáo viên nam chiếm
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S12 - 2019
ISSN 2354-1482
2.2. Kết qu nghiên cứu
cc ca học sinh trong trường học và
Kết quả nghiên cứu cũng nhm mc
liên quan chặt chvới thành tích học
tiêu cng cnhng kết quả nghiên cứu
tp ca học sinh, thành tích hoạt động
trước
đây về
năng lực
SEL của
giáo
xã hội, động cơ học tp ca học sinh, và
viên rằng những giáo viên có năng lực
nhng hành vi có vấn đề, bhc ca
SEL có thể cung cp nn tng cn thiết
hc sinh (Spilt, Koomen, & Thijs, 2011
và định hướng giúp họ hình thành các
[2]; Baker, Grant, & Morlock, 2008 [7];
mi quan hgn kết và hỗ trvi hc
BernsteinYamashiro
&
Noam,
2013
sinh nhm quản lý hiệu qulp học và
[8]; Murray & Zvoch, 2011 [9]). Trên
triển khai thành công hoạt động hc tp
cơ sở này, kết qutự đánh giá về vic
năng lực SEL cho hc sinh (Jennings,
ng dụng mô hình giáo dục năng lực
2011 [5]; Jennings & Greenberg, 2009
cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo
[6]).
Nhng
mi
quan
h
này là
nền
dc ở THCS được khai thác đầu tiên ở
tng cho sự phát triển cân bằng và tích
Vit Nam.
Bng 1: T đánh giá về vic ng dụng hình giáo dục năng lực cảm xúc
hội SEL vào hoạt động giáo dục THCS
TT
Mức độ
S lượng
T l (%)
1
Chưa bao giờ
15
10,71
2
Hiếm khi
27
19,28
3
Thnh thong
68
48,57
4
Thường xuyên
22
15,71
5
Rất thường xuyên
8
5,73
Nghiên cứu gần đây của nhóm tác
này vào hoạt động giáo dục. Kết qu
giả Buchanan và cộng s(2009) kho
này phản ánh tình hình ứng dụng giáo
sát trên 263 giáo viên đến thai bang
dục năng lực SEL Hoa Kỳ và Việt
Oregon và Illinois
có diện tích lần lượt
Nam một cách khá cụ thể khi đặt trong
ln thứ 9 và thứ 25 trên 50 bang ca
mi quan hệ so sánh. Việt Nam, giáo
Hoa Kỳ, trong đó 51,1% là giáo viên
dục năng lực SEL mặc dù đã được lng
tiu hc, 37,9% là giáo viên THCS và
ghép vào chương trình giáo dục mm
11%
không
khi
hay
bậc
đang
non, nhưng ở trường tiu học, THCS thì
công tác, kết qucho thy gần như tất
học sinh “phải” học năng lực SEL thông
cả giáo viên thừa nhận năng lực SEL
qua các tình huống có vấn đề chứ không
quan trọng trong trường hc ln cuc
tách bạch rõ ràng (Hoàng Mai Khanh;
sng,
t
l
98,9%
(Buchanan,
R.,
Vũ Quang Tuyên, 2016) [11]. Do đó,
Gueldner,
B.
A.,
Tran,
O.
K.,
&
việc giáo viên tham gia đề tài này chưa
Merrell, K. W., 2009) [10]. Trong khi
ý thức vtm quan trọng và ứng dng
đó,
kết
qu
bng
1
cho
thấy
đến
giáo dục năng lực SEL không chỉ đến t
48,57%
khách
thể
nghiên
cứu
thnh
vic bản thân những giáo viên này chưa
thong ng dụng mô hình giáo dục năng
hiểu rõ về năng lực SEL cũng như cơ
lc cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động
hội để triển khai giáo dục SEL Vit
giáo dục
THCS
có đến 19,28%
Nam chưa được phbiến hay nói khác
khách thhiếm khi ng dụng mô hình
chưa được tiến hành một cách tp trung,
3
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
28 lần xem

Thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc trung học cơ sở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL (Social and Emotional Learning) vào hoạt động giáo dục ở bậc Trung học cơ sở cho thấy chỉ đạt mức trung bình, ảnh hưởng đáng kể đến thực trạng năng lực SEL của học sinh Trung học cơ sở. Vì vậy, đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần được tạo điều kiện để tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở trường Trung học cơ sở..

Nội dung

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH GIÁO DỤC NĂNG LỰC CẢM XÚC XÃ HỘI SEL CỦA GIÁO VIÊN VÀO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÓM TẮT Huỳnh Văn Sơn1 Nguyễn Thị Tứ1 Kết quả nghiên cứu thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL (Social and Emotional Learning) vào hoạt động giáo dục ở bậc Trung học cơ sở cho thấy chỉ đạt mức trung bình, ảnh hưởng đáng kể đến thực trạng năng lực SEL của học sinh Trung học cơ sở. Vì vậy, đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần được tạo điều kiện để tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở trường Trung học cơ sở. Từ khóa: Thực trạng, ứng dụng mô hình SEL, giáo viên, hoạt động giáo dục, trung học cơ sở 1. Đặt vấn đề Hoạt động giáo dục là điều kiện quan trọng để hình thành thái độ, rèn luyện hành vi, kỹ năng xã hội cho học sinh. Nói cách khác, hoạt động giáo dục có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy người ở nhà trường hiện nay. Theo Rahul Rathore, quyền giáo dục là một quyền cơ bản, trẻ em đến mười bốn tuổi phải đi học và không nên đi làm, sử dụng lao động trẻ em là một hành vi phạm pháp (Rahul Rathore, 2018) [1]. Theo tác giả Rishav Mohta, một người có tri thức có khả năng phân biệt giữa đúng và sai, thiện và ác. Đó là an, trong vòng 6 năm (2007 - 2013), cả nước đã xảy ra 63.600 vụ án hình sự do trẻ vị thành niên gây ra, với 94.300 đối tượng là trẻ phạm tội, tăng gần 4.300 vụ án so với 6 năm trước đó, số tội phạm vị thành niên càng trẻ hóa. Trong tổng số 94.300 tội phạm vị thành niên nói trên, số trẻ dưới 14 tuổi phạm tội chiếm tới 13%, trẻ từ 14 đến 16 tuổi phạm tội chiếm tới 34,7%. Thống kê trên cũng cho biết thêm, có đến trên 70% số đối tượng trong tổng số 94.300 đối tượng vị thành niên phạm tội là ở các thành phố, thị xã, còn ở nông thôn chỉ chiếm 24% [3]. trách nhiệm hàng đầu của xã hội để giáo Thực trạng trên đòi hỏi các nhà dục công dân một cách hiệu quả (Spilt, J. L., Koomen, H. M., & Thijs, J. T., 2011) [2]. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, đặc biệt là ở bậc Trung học cơ sở (THCS) chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Đề án “Đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên” của Bộ Công 1Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Email: sonhuynhts@gmail.com 1 nghiên cứu, các nhà giáo dục phải nỗ lực hơn nữa trong việc tìm tòi những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục, nhằm bồi dưỡng đạo đức, lối sống, kỹ năng cho học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng. Mô hình SEL khẳng định tính hiệu quả khi áp dụng vào môi trường học đường, SEL giúp người học học cách nhận biết và quản lý cảm xúc của mình, quan tâm đến người khác, ra quyết định đúng đắn, TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 cư xử một cách có đạo đức và trách nhiệm, phát triển những mối quan hệ tích cực, và tránh những hành vi tiêu cực (Goleman, D., 1995) [4]. SEL của học sinh THCS không thể tự nhiên phát triển. Một trong những nhân tố tác động có ảnh hưởng quan trọng đến học sinh THCS đó là giáo viên. Vậy thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc THCS địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như thế nào. Câu hỏi này cần được giải quyết. 2. Giải quyết vấn đề 2.1. Khách thể nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc THCS được phân tích trên bình diện chung có nhấn mạnh vào việc ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống dành cho học sinh THCS như một trong những nội dung có liên quan đến vấn đề tìm ra nguyên nhân của thực trạng năng lực cảm xúc xã hội SEL của học sinh THCS đã phân tích ở trên. Để có thể đánh giá thực trạng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL của giáo viên vào hoạt động giáo dục ở bậc THCS, chúng tôi lựa chọn giáo viên THCS tham gia nghiên cứu dựa trên phương pháp chọn mẫu thuận tiện với 140 giáo viên đồng thuận tham gia nghiên cứu về thực trạng năng lực giáo dục cảm xúc và xã hội (SEL) của học sinh THCS ở Việt Nam. Giáo viên THCS tham gia cuộc điều tra gồm 77 giáo viên nam chiếm 55% và 45% là giáo viên nữ - 63 khách thể; độ tuổi chia thành các nhóm gồm: từ 20 đến 30 tuổi chiếm 43%, từ 31 đến 40 tuổi chiếm 28,3%, từ 41 đến 50 tuổi chiếm 26,4%, từ 51 đến 60 tuổi chiếm 2,3%. Về thâm niên, số năm kinh nghiệm dạy học ở trường THCS chia thành các nhóm: từ 1 đến 3 năm chiếm 53,6%, từ 4 đến 5 năm chiếm 20,7%, từ 6 đến 8 năm chiếm 21,3%, từ 9 năm đến 12 năm chiếm 4,4%. Trong đó, 15,7% giáo viên có trình độ cao đẳng, 84,3% giáo viên có trình độ đại học trở lên. Để đảm bảo khách thể tham gia đến từ các bối cảnh khác nhau không có sự khác biệt đáng kể về ý nghĩa ở biến nghiên cứu chính, tiến hành thực hiện so sánh giữa các trường khác nhau. Những so sánh này cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các khách thể tham gia nghiên cứu vì thế nhóm mẫu có thể mang tính nhất quán. Dữ liệu được được thu thập tại các trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: trường THCS Phan Sào Nam, trường THCS Hai Bà Trưng, trường THCS Đồng Khởi và trường Kiến Thiết. Để thu được số liệu khách quan, nhóm nghiên cứu tiến hành giới thiệu cho khách thể khảo sát về mục đích nghiên cứu là đánh giá thực trạng thực trạng năng lực SEL của học sinh THCS ở Việt Nam và sự tham gia này là tự nguyện và ẩn danh. Có 170 phiếu khảo sát được phát ra và 140 phiếu được trả lời đầy đủ và gửi lại cho nhóm nghiên cứu, với tỷ lệ từ chối là 0,0%, tỷ lệ phiếu trả lời chưa đạt là 16,7% và tỷ lệ phiếu đạt yêu cầu là 83,3%. Thời gian hoàn thành bảng hỏi trung bình 15 phút. 2 TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 2.2. Kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cũng nhằm mục tiêu củng cố những kết quả nghiên cứu trước đây về năng lực SEL của giáo viên rằng những giáo viên có năng lực SEL có thể cung cấp nền tảng cần thiết và định hướng giúp họ hình thành các cực của học sinh trong trường học và liên quan chặt chẽ với thành tích học tập của học sinh, thành tích hoạt động xã hội, động cơ học tập của học sinh, và những hành vi có vấn đề, bỏ học của học sinh (Spilt, Koomen, & Thijs, 2011 [2]; Baker, Grant, & Morlock, 2008 [7]; mối quan hệ gắn kết và hỗ trợ với học Bernstein‐Yamashiro & Noam, 2013 sinh nhằm quản lý hiệu quả lớp học và triển khai thành công hoạt động học tập năng lực SEL cho học sinh (Jennings, 2011 [5]; Jennings & Greenberg, 2009 [6]). Những mối quan hệ này là nền tảng cho sự phát triển cân bằng và tích [8]; Murray & Zvoch, 2011 [9]). Trên cơ sở này, kết quả tự đánh giá về việc ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở THCS được khai thác đầu tiên ở Việt Nam. Bảng 1: Tự đánh giá về việc ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở THCS TT Mức độ 1 Chưa bao giờ 2 Hiếm khi 3 Thỉnh thoảng 4 Thường xuyên 5 Rất thường xuyên Số lượng 15 27 68 22 8 Tỷ lệ (%) 10,71 19,28 48,57 15,71 5,73 Nghiên cứu gần đây của nhóm tác giả Buchanan và cộng sự (2009) khảo sát trên 263 giáo viên đến từ hai bang này vào hoạt động giáo dục. Kết quả này phản ánh tình hình ứng dụng giáo dục năng lực SEL ở Hoa Kỳ và Việt Oregon và Illinois có diện tích lần lượt Nam một cách khá cụ thể khi đặt trong lớn thứ 9 và thứ 25 trên 50 bang của Hoa Kỳ, trong đó 51,1% là giáo viên tiểu học, 37,9% là giáo viên THCS và 11% là không rõ khối hay bậc đang công tác, kết quả cho thấy gần như tất cả giáo viên thừa nhận năng lực SEL quan trọng trong trường học lẫn cuộc mối quan hệ so sánh. Ở Việt Nam, giáo dục năng lực SEL mặc dù đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục mầm non, nhưng ở trường tiểu học, THCS thì học sinh “phải” học năng lực SEL thông qua các tình huống có vấn đề chứ không tách bạch rõ ràng (Hoàng Mai Khanh; sống, tỷ lệ 98,9% (Buchanan, R., Vũ Quang Tuyên, 2016) [11]. Do đó, Gueldner, B. A., Tran, O. K., & việc giáo viên tham gia đề tài này chưa Merrell, K. W., 2009) [10]. Trong khi đó, kết quả bảng 1 cho thấy có đến ý thức về tầm quan trọng và ứng dụng giáo dục năng lực SEL không chỉ đến từ 48,57% khách thể nghiên cứu thỉnh việc bản thân những giáo viên này chưa thoảng ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở THCS và có đến 19,28% khách thể hiếm khi ứng dụng mô hình hiểu rõ về năng lực SEL cũng như cơ hội để triển khai giáo dục SEL ở Việt Nam chưa được phổ biến hay nói khác chưa được tiến hành một cách tập trung, 3 TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 đúng định hướng. Đây có thể là điểm cần suy ngẫm nhưng chưa thể kết luận là nguyên nhân này là do chính bản thân chủ thể chủ động: giáo viên. Bảng 2: Nhận thức của giáo viên THCS về mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL MỨC ĐỘ TT NĂNG LỰC SEL Mức 1 Mức 2 SL % SL % Người có năng lực SEL nghĩa là không chỉ có kỹ năng nhận thức, 1 quản lý bản thân 4 2,86 6 4,29 mà còn nhận thức và quản lý mối quan hệ với người khác Mức 3 SL % 76 54,29 Mức 4 SL % 20 14,29 Mức 5 ĐTB SL % 34 24,27 3,51 2 3 4 5 Việc ứng dụng mô hình SEL sẽ cần rất nhiều thời gian Những năng lực cảm xúc - xã hội sẽ giúp học sinh đối mặt với những thách thức trong tương lai Mô hình SEL bao gồm 5 nhóm năng lực chính: tự nhận thức bản thân, nhận thức người khác, làm chủ mối quan hệ, làm chủ các mối quan hệ và ra quyết định có trách nhiệm Giáo dục năng lực cảm xúc - xã hội chính là giáo dục các kỹ năng để người học có thể kiểm soát bản thân, hành xử tích cực với người khác và đưa ra những quyết định có trách nhiệm 7 5,00 10 7,14 5 3,57 12 8,57 4 2,86 17 12,14 3 2,14 9 6,43 75 53,57 80 57,14 68 48,57 65 46,43 19 13,57 29 22 15,71 21 35 25,00 20 38 27,14 25 20,71 3,33 15,00 3,32 14,29 3,41 17,86 3,5 Tác giả Elias (2009) cho rằng để trở thành một giáo viên có năng lực SEL có nghĩa là họ không chỉ có kỹ năng mà còn nhận thức và quản lý bản thân; 4 TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 nhận thức và quản lý mối quan hệ với người khác. Tác giả tin rằng nếu giáo viên cảm thấy tự tin với các kỹ năng tự nhận thức bản thân, nhận thức người khác, làm chủ mối quan hệ, làm chủ các mối quan hệ và ra quyết định có trách liên quan đến cảm xúc sẽ nhận ra và nhiệm” với ĐTB tìm được là 3,41. hiểu được tốt hơn cảm xúc của học sinh và vai trò của họ đối với hành vi của học sinh (Elias, 2009) [12]. Hơn nữa, giáo viên này có thể có hiểu được một cách tích cực hơn đối với sự cần thiết, niềm tin và sự tôn trọng của học sinh (Jennings & Greenberg, 2009) [6]. Số liệu tìm được ở bảng 2 cho thấy, nhận thức “Người có năng lực SEL nghĩa là Đứng vị trí thứ 4 “Việc ứng dụng mô hình SEL sẽ cần rất nhiều thời gian” với ĐTB là 3,33. Đứng vị trí cuối cùng “Những năng lực cảm xúc - xã hội sẽ giúp học sinh đối mặt với những thách thức trong tương lai” với ĐTB là 3,32. Kết quả trên cho thấy giáo viên nhận thức về SEL ở mức độ trung bình. Đây là một tín hiệu cần quan tâm để tăng không chỉ có kỹ năng nhận thức, quản cường những khóa tập huấn chuyên lý bản thân mà còn nhận thức và quản lý mối quan hệ với người khác” đứng vị trí thứ 1 với ĐTB=3,51. Đứng vị trí thứ 2 “Giáo dục năng lực cảm xúc - xã hội chính là giáo dục các kỹ năng để người học có thể kiểm soát bản thân, hành xử môn về SEL để cung cấp cho đội ngũ giáo viên nền tảng kiến thức khoa học và cách ứng dụng SEL vào hoạt động giáo dục một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng SEL chắc chắn gặp những khó khăn nhất định. Kết quả tích cực với người khác và đưa ra khảo sát này rất quan trọng để từ đó xác những quyết định có trách nhiệm” với ĐTB=3,5. Đứng vị trí thứ 3 “Mô hình SEL bao gồm 5 nhóm năng lực chính: lập các cơ sở đề xuất cho công tác bồi dưỡng, đào tạo tích hợp... về SEL cho đội ngũ. Bảng 3: Những khó khăn ảnh hưởng đến thực trạng việc ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở trường THCS TT KHÓ KHĂN 1 Thời gian không có 2 Áp lực thành tích học văn hóa 3 Hiểu biết và kỹ năng của bản thân không đủ 4 Chương trình học không có thể co giãn 5 Quan điểm của Ban Giám hiệu về nội dung chương trình rất cứng 6 Khó lựa chọn hoạt động giáo dục cụ thể 7 Điều kiện cơ sở vật chất hạn chế Số lượng 108 66 82 56 89 75 69 Tỷ lệ (%) 77,14 47,14 58,57 40,00 63,57 53,57 49,29 Kết quả bảng 3 cho thấy trong các tỷ lệ 52,3% cho thấy sự khác biệt rất lớn khó khăn nêu ra, lý do “Thời gian về thời lượng học tập giữa Việt Nam và không có” xếp thứ nhất với sự tán thành từ 77,14% giáo viên THCS là rào cản Hoa kỳ. Có tới 63,57% hiệu trưởng từ trường mầm non đến trường trung học lớn nhất với tỷ lệ giáo viên chọn mức từ phổ thông của Hoa Kỳ muốn đưa cao trở lên, so với nghiên cứu của “chính sách” ứng dụng SEL vào trong Buchanan và cộng sự (2009) [10] chiếm trường học là một tiêu chuẩn của tiểu 5 TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019 ISSN 2354-1482 bang cũng như ở đề tài này là những quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tiếp theo, về rào cản ảnh hưởng đến việc ứng dụng năng lực SEL vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống đối với học cứu trước đó của Buchanan và cộng sự (2009) khi chỉ 29,9% giáo viên thừa nhận có năng lực và từng ứng dụng SEL vào trong hoạt động giảng dạy của họ. Dù đây là số liệu nghiên cứu khác ở sinh THCS mà giáo viên đánh giá đó là một quốc gia khác, thực trạng nghề “Quan điểm của Ban Giám hiệu về nội dung chương trình rất cứng” với tỷ lệ 64,57% giáo viên chọn mức cao trở lên. Điều này cho thấy cần phải có sự đổi mới về quan điểm của Ban Giám hiệu để có thể ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL vào hoạt động giáo dục ở trường THCS một cách hiệu quả. Kế tiếp, có đến 58,57% giáo viên cho rằng “Hiểu biết và kỹ năng của bản thân không đủ” đứng vị trí thứ 3, điều này khá chênh lệch cho với nghiên nghiệp và giáo dục khác nhưng cho thấy sự hiểu biết của giáo viên có sự chênh lệch một cách đáng kể. Đứng vị trí thứ 4 và thứ 5 lần lượt là “Khó lựa chọn hoạt động giáo dục cụ thể” và “Điều kiện cơ sở vật chất hạn chế” với tỷ lệ tìm được là 53,57 và 49,29. Có thể xem xét về thực trạng ứng dụng SEL vào hoạt động giáo dục học sinh THCS qua hoạt động cụ thể mà giáo viên đã thực hiện. Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 4. Bảng 4: Thứ tự hoạt động giáo dục ở trường THCS có thể ứng dụng mô hình giáo dục năng lực cảm xúc xã hội SEL TT HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Tài liệu liên quan