Tây Bắc Bộ

Đăng ngày 10/16/2019 12:37:37 PM | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 13 | Page: 6 | FileSize: 1.96 M | File type: PDF
Tây Bắc Bộ. Bài viết trình bày các nội dung các gãy đứt chính, kiểu động hình học, biên độ dịch chuyển, phức hệ chất và kiến trúc đi kèm, kiểu động hình học của một số đứt gãy như: đứt gãy Sơn La, đứt gãy Sông Mã, đứt gãy Sông Đà...
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
13 lần xem

Tây Bắc Bộ. Bài viết trình bày các nội dung các gãy đứt chính, kiểu động hình học, biên độ dịch chuyển, phức hệ chất và kiến trúc đi kèm, kiểu động hình học của một số đứt gãy như: đứt gãy Sơn La, đứt gãy Sông Mã, đứt gãy Sông Đà....

Nội dung

764 BÁCH KHOA THƯ ĐỊA CHÁT phương TTB-ĐĐN có hướng cắm ĐB với góc dốc 70-90°: ở đoạn phương á vĩ tuyến có hướng cắm về nam với góc cắm 60-80°; còn ở đoạn phương TTN-ĐĐB có hướng cắm vể ĐN với góc dốc 75-90°. Biên độ dịch chuyển: Thê hiện không đổng nhất theo các kiểu hình động học khác nhau. Phức hệ vật chất và kiến trúc đi kèm: Đứt gãy Yên Tử - Tấn Mài là ranh giới phía nam của bổn Mesozoi An Châu, nó bị đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên cắt qua ở Tiên Yên thành hai đoạn. Hai bên các đoạn này đểu có các đứt gãy phụ quy mô và định hướng khác nhau. Chúng tạo thành các đới hẹp bao hai bên đứt gãy chính. Độ sâu tới mặt Moho, Conrad và kết tinh trên cánh phía nam nâng lên một giá trị là 2km và lkm, nằm ở mức tương ứng là 28-30 km, 12-14 km và 3-4 km. Những dấu hiệu khác: Đoạn trên phạm vi lãnh thô Việt Nam có biểu hiện rõ nét trên tài liệu trọng lực dị thường Bouguer. Gradient ngang trọng lực trùng với đứt gãy này có giá trị trung bình 1,0-2,0 mGal/km. Đút gãy kém biểu hiện trên tài liệu từ hàng không. Độ sâu tới mặt Moho, Conrad và kết tinh trên cánh phía nam nâng lên một giá trị là 2km, 2km và lkm, và nằm ở mức tương ứng là 28-30km/ 12-14 km và 3-4km. Dọc theo đứt gãy có nhiều động đất cấp độ mạnh khá lớn, Ms đã quan sát ở đây cỡ xâp xỉ 5,0 - 5,9 độ Richter. Đứt gãy nằm trong vùng phát sinh động đâ't với Mmax = 5,9 độ Richter. Nhiều trận động đâ't mạnh đã từng xảy ra ở khu vực này. Hoạt động hiện đại của đứt gãy được thể hiện bằng các tai biên địa chất, các dị thường địa hóa như Ra, Hg, CƠ2, CH4,xuât lộ nước khoáng nóng. Địa hình của đứt gãy Yên Tử - Tấn Mài thay đổi rõ rệt theo đường phương. Đoạn Thái Nguyên - Phú Bình nằm trong dải địa hình đổng bằng đối rộng 3-4km, có độ cao dưới 30m; từ Phú Bình tới Bài Thảo đứt gãy này là dải trũng hẹp trên đồng bằng; từ Bãi Thảo đến núi Lai Cát đứt gãy nằm ở ranh giói tương phản giừa dãy núi Yên Tử cao trung bình 600-700m với vách dốc đứng ở phía nam, đối diện về phía bắc là dãy núi thấp 300-400m, sườn thoải; tử Kê Ru đến Khe Tây hình ảnh hoàn toàn ngược lại, ở phía bắc là dãy núi cao trung bình 700-800m, dài 20km/ còn ở phía nam là dải núi thâp cao trung bình 400-500m sườn thoải; từ Tiên Yên đến biên giới Việt - Trung đút gãy là ranh giói giừa hai cảnh quan khác biệt: phía bắc là dải núi đổ sộ Khoang Nam Châu Lãnh với các đính cao 1.000-1.500111, phía nam là khu vực địa hình dạng bậc thang thâp dần từ 500m đến bờ biến. Tài liệu tham khảo C ao Đ ình Triều, Phạm H uy Long, 2002. Kiến tạo đ ứ t gãy lãnh thô V iệt N am . N X B Khoa học và K ỹ thuật. 210 tr. H à Nội. N guyễn Đ ình X uyên, T rần Văn Thắng, 2005. Đ ịa chân kiên tạo và các vùng p h át sinh động đâ't m ạnh trên lãnh thô V iệt N am . Tuyển tập báo cáo H ộ i nghị khoa học "6 0 năm Đ ịa chất Việt N a m ". 263-283. H à N ội. Phan T rọng T rịnh, 2012. Kiến tạo trẻ và địa động lực hiện đại vùng biến Việt N am và k ế cận N X B Khoa học T ự nhiên và Công nghệ. 331 tr. H à Nội. T rần V ăn Trị và Vũ K húc (Đ ổng chủ biên), 2009. Đ ịa chât và Tài nguyên V iệt N am . C ục Đ ịa chât và K hoáng sản Việt N am . N X B Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. 589 tr. H à Nội. Vũ V ăn C hinh, 1996. v ề m ột số đ ứ t gằy hoạt đ ộ n g trong giai đoạn tân kiến tạo vùng đông bắc V iệt N am . Đ ịa chất Tài nguyên. N xb Khoa học và K ỹ th u ậ t: 22-32. H à N ội. ĩaT M H C K M íí KD. n , 3 o p n H a K D .r., M m c t a k o b A .A .,1 9 8 4 . OcOÕeHHOCTM pa3zlOMHOM TeKTOHHKM H»i4 0 KMTaMCKOro perHOHa. reomeKtnoHUKa, No 5. 73-82. Tây Bắc Bộ Lê Duy Bách. Tồng hội Địa chắt Việt Nam. Giới thiệu Mạng lưới đứt gãy ở khu vực Tây Bắc Bộ có mật độ cao của các đứt gãy lớn với phương chủ yếu là TB - ĐN, song song với hệ thống đứt gãy Sông Hổng, như các đứt gãy Sông Đà, đứt gãy Sơn La, đứt gãy Sông Mã. Đổng thời, phát triển các đứt gãy phương á kinh tuyến, ĐB - TN và á vĩ tuyến. Có quy mô lớn nhất là đứt gãy Lai Châu - Điện Biên theo phương á kinh tuyến, v ể đại thê các đứt gãy chính ở đây sinh thành và phát triến trong bối cảnh địa động lực biến đối nhanh ở hệ đường khâu giữa khối Đông Dương (Indochina) và khối Nam Trung Hoa trong suốt lịch sử Phanezozoi. Đáng chú ý là các đứt gãy ở Tây Băc Bộ đểu là các đới được dự báo phát sinh động đá't mạnh, trong đó mạnh nhất là đới Sông Mã. ĐỨT GÃY Ở VIỆT NAM 765 Danh sách các đứt gãy chính gổm 1. Đứt gãy phát sinh, phát triến các trũng lắng đọng các trầm sỏng Đà, 2. Đứt gãy Sơn La, 3. Đứt gãy Sông Mã, 4. Đứt gãy Lai Châu - Điện Biên [H.l]. Các đừt gây chính Đừt gãy Sông Đà Cắp hạng: Cấp II Quy mô: Đứt gãy Sông Đà có chiểu dài gần 500km, bắt đẩu từ phía bắc Phong Thổ, chạy dọc theo thung lũng suối Nậm Mạ và sông Đà đến vùng Đà Bắc thì ròi khòi sông Đà, tiếp tục chạy theo phương ĐN, men theo chân phía đông bắc dãy núi đá vôi Mai Châu -Tam Điệp, sau đó ra biển ở ngoài khơi Kim Sơn, Ninh Bình [H.l]. Đứt gãy Sông Đà có dạng uốn lượn theo phương chung là TB-ĐN và có thê được chia thành 3 đoạn chính với đặc điếm hình động học khác nhau đang kế - Sin Hổ - Sơn La; Sơn La - Mai Châu và Mai Châu - Kim Sơn. Đứt gãy Sông Đà có một đứt gãy chính và nhiều đứt gãy phụ kích thước khác nhau, tập hợp thành nhiều kiểu hình thái kiến trúc phức tạp. Độ sâu ảnh hường của đứt gãy đạt 35 - 40km. Thời gian sinh thành: Đứt gãy Sông Đà xuất hiện từ Paleozoi muộn và có tính chât thuận - tách trong quá trinh phát sinh của rift Sông Đà. Đứt gãy này còn tiếp tục hoạt động trong giai đoạn tạo núi cuối Mesozoi sớm (Trias muộn, kỳ Nori và kỳ Rhet), tạo núi Creta muộn và tân kiến tạo. Hoạt động của đứt gãy trong Nori - Rhet và Creta muộn gắn chặt với sự tích molas phân bố dọc đứt gãy, phía cánh đông bắc. Kiểu động hình học: Kiểu hình động học của đứt gãy Sông Đà tương đối phức tạp, với xu hướng chung là nghiêng vể ĐB, với góc dốc khoảng 70-80°. Một số đoạn cá biệt có góc dốc thoải hơn (60° ở đoạn đèo Chẹn) hoặc gần thẳng đứng (80 - 90° đoạn Tân Lạc -Lạc Sơn) Ở cánh TN phẩn lớn các đứt gãy phụ nghiêng về ĐB với góc dốc 60 - 70° (ít khi 80°), trừ một số đứt gãy ở đoạn Tạ Pủ - đèo Chẹn nghiêng ngược lại. Biên độ dịch chuyển: Biên độ dịch trượt bằng phải của đứt gãy Sông Đà trong Đệ Tứ là khoảng 1.100-2.500m. Biên độ dịch chuyển thẳng đứng của đứt gãy này trong tân kiến tạo là khoảng 500m với cánh đông bắc hạ tương đối. Trong quá trình phát triển đứt gãy Sông Đà luôn luôn có thành phẩn thuận với tống biên độ thang đứng tới hàng nghìn mét. Phức hệ vật chất và kiến trúc đi kèm: Đới đứt gãy Sông Đà cắt qua các thể địa chất trong khu vực có tuổi từ Paleozoi đến Kainozoi. Cánh TN của đới cắt chủ yếu là các trầm tích Trias trung (T2) và một ít các thể Paleozoi ở đẩu tây bắc. Cánh ĐB cắt qua các trầm tích từ Devon đến Creta. Trong phạm vi của đới còn có trầm tích Kainozoi trong các trũng nhỏ phân bô dọc theo các đứt gãy. Ớ vùng Quỳnh Nhai - Than Uyên, đứt gãy là đường dẫn dung nham phun trào basalt của hệ tầng Viên Nam (P3 - Ti vn), cũng như các dung thê tạo các khối xâm nhập á núi lừa thành phần mafic thuộc phức hệ Ba Vì. "•"'“ " ĩ . Mương Tè kilomeỉ Mu Câng Chài Yên Bái Tuấn Giáo Nghĩa Lộ Điện Bièn Phú Việt Tri Hoa Binh y Mai Châu Ị g n u t Phủ Lý 1 X . Ninh Binh _____ Ngọc Lạc Hình 1. Các đừt gãy chính ở Tây Bắc Bộ trên ảnh DEM (Lê Duy Bách, Phùng Thị Thu Hằng, 2014). 766 BÁCH KHOA THƯ ĐỊA CHÁT Đới dập vở do hoạt động của đứt gãy Sông Đà gây ra các biến dạng đứt gãy và khe nứt râ't phát triển trong nhiều thê địa châ't khác nhau dọc thung lũng sông Đà. Ớ phía đông thị trấn Quỳnh Nhai khoảng lkm, trong cát kết của hệ tầng Suối Bàng ngoài các khe nứt còn gặp rất nhiều mặt trượt láng bóng và nhiều mặt trượt có vết xước với các kiểu dịch chuyến khác nhau. Ở vùng Pác Ma, phía bờ trái sông Đà, đã quan sát được đới phá hủy rộng tới 300m. Ở phía đông bến phà Pác Ưân khoảng 500m, trong cát kết màu xám sáng, nâu đỏ thuộc hệ tầng Yên Châu, lộ ờ củ lao giữa sông, còn gặp các mặt trượt chằng chịt, láng bóng, uốn cong, thể hiện môi trường giòn dẻo của quá trình biến dạng. Những dấu hiệu khác: Đứt gãy trùng với dải gradient ngang dị thường trọng lực có câu trúc dạng dải và cường độ trung bình 1,0-2,5 mGal/km. Đứt gãy cũng biểu hiện trên dải gradient ngang dị thường từ có cường độ trung bình 8,0-12 nT/km. Dọc theo đứt gãy có biểu hiện của động đất với Ms = 4,0-4,9 độ Richter. Đặc biệt thời gian gẩn đây, ghi nhận được nhiều trận động đất nhỏ đã xảy ra trong đới đứt gãy này. Đứt gãy Sông Đà nằm trong vùng phát sinh động đất với Mmax—5,5 độ Richter. Hiện nay đứt nãy Sông Đà vẫn đang tiếp tục hoạt động, biểu hiện qua xuất lộ nước khoáng nóng, các dị thường cao về địa nhiệt và các dị thường, các yếu tố địa hoá đặc biệt (Ra, Hg, CƠ2, CHU) và các biếu hiện nứt trượt đất quy mô khác nhau dọc theo đới động lực của đứt gãy. Đứt gãy Sông Đà thê hiện rất rõ trên địa hình và trên ảnh vệ tinh; tính bất đối xứng theo mặt cắt ngang biểu hiện rõ ở cánh tây nam. Đó là các dải đá vôi kéo dài theo phương tây bắc - đông nam với vách dốc đứng, còn phía cánh đông bắc là các dải địa hình xâm thực bóc mòn có độ dốc thoải. Trên ảnh vệ tinh, địa hình và mô hình DEM [H.l] đứt gãy được thế hiện rõ nét là đới trục tây bắc, với địa hình bị cắt xẻ, đào khoét sâu bời hệ thống đứt gãy Sông Đà. v ề cơ bản, theo dấu hiệu địa mạo, đứt gãy Sông Đà gồm hai phần chính - phần tây bắc thuộc kiếu dải trũng của các thung lũng vùng núi, phần còn lại thuộc kiếu chuyển tiếp giữa một bên là núi cao một bên là địa hình thấp và trũng. ĐÚ1 gãy Sơn La cáp hạng: Câp II Quy mô: Đứt gãy kéo dài trên 400 km, từ khu vực Pa Tẩn qua Tủa Chùa (Lai Châu) chạy dọc theo thung lủng Thuận Châu về đến Mai Châu (Sơn La) qua Bá Thước, Bim Son (Thanh Hóa) và hội nhập vói các đứt gãy của bổn Sông Hồng qua khu vực Nga Son (Thanh Hóa) [H.3]. Đứt gãy San La gồm một số đứt gãy đơn lẻ chạy song song kéo dài chủ yếu theo hướng TB - ĐN, có đoạn phương vị đường phương chủ đạo là á vĩ tuyến như đoạn Mộc Châu - Bá Thước. Các đứt gãy phụ và đứt gãy phân nhánh của đới đứt gãy Sơn L,a chủ yếu có dạng phân bố song song ở phía bắc cùa đứt gãy, có dạng uốn lượn, tạo với đứt gãy chính một góc từ 45° đến 30°. Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy hơn 60km. Thời gian sinh thành: Đứt gãy Son La hình thành vào thời đoạn Permi-Trias và đã trải qua ba giai đoạn chuyến động lớn. Giai đoạn chuyển động lớn thứ hai xảy ra từ cuối Oligocen đến cuối Miocen, củng thài với hoạt động của đới biến dạng Sông Hổng. Giai đoạn chuyển động thứ ba kéo dài từ đẩu Pliocen đen Đệ Tứ và đang tiếp tục hoạt động. Kiểu động hình học: Trong giai đoạn Pliocen - Đệ Tú đứt gãy Sơn La chuyên dịch theo cơ chế trượt bang phải với hợp phẩn thuận. Biên độ dịch chuyển: Biên độ dịch trượt bằng phải trong Đệ Tứ từ 600m đến 2.000m. Phức hệ vật chất và kiến trúc đi kèm: Trên bình đổ câu trúc hiện tại phẩn phía nam của đứt gãy lộ chủ yếu các đá trầm tích có tuổi từ Cambri đến Permi bị biến chất thấp đến không biến chất. Phần phía bắc đứt gãy lộ chủ yếu đá carbonat. Trầm tích lục nguyên xen carbonat đến thuần lục nguyên có tuổi từ Trias đến Creta. Dọc đứt gãy, đôi nơi lộ một số thế xâm nhập acid đến kiểm (Lai Châu). Đôi chỗ, các đứt gây phụ và các đứt gãy phân nhánh của đới đứt gãy này khống chế trũng trầm tích Neogen (Hang Mon). Dọc theo đứt gãy Sơn La phát hiện được các đới phá hủy giòn thể hiện dưới dạng các đá kiến tạo như tảng kết kiến tạo, dăm kết kiến tạo, các đới cataclasit và mylonit nhiệt độ thâp và bột kiến tạo, tảng kết kiến tạo tạo thành đới có bề dày râ't lớn và kéo dài, do quá trình chuyến động kiến tạo phá huý gần như phần lớn các rìa của cả dãy núi đá vôi tuổi Trias. Những dấu hiệu khác: Đứt gãy trùng với dải gradient ngang dị thường trọng lực gổm các cấu trúc nhỏ nối nhau thành chuỗi cùng phương và có giá trị cường độ trung bình 1,0-2,5 mGal/km. Đứt gãy thể hiện trong cấu trúc trường từ hàng không, thành phan ATa là dải gradient ngang dị thường từ dạng dài uốn nếp theo phương đứt gãy có cường độ trung bình 8,0-10,0 nT/km, đặc biệt hai đoạn đầu và cuối đứt gãy có giá trị cường độ trung binh lớn hơn, cỡ 20-30 nT/km. Đứt gãy Sơn La cắm vể phía đông bắc tạo nên bậc sụt mặt móng kết tinh 2-4km/ mặt Mohơ và Conrad có biên độ nâng tương ứng là 2km (36-34km) và 4km (18-14km). Dọc đứt gãy có biểu hiện động đất mạnh. Đặc biệt là trận động đâ't Tuần Giáo ngày 24/6/1983 có Ms= 6,7; câ'p chân động Io= 8-9. Đới đứt gãy Sơn La nằm trong vùng phát sinh động đất với Mmax= 6,8 độ Richter. Hoạt động hiện đại của đứt gãy râ't mạnh mẽ. Dọc đứt gãy xuất hiện nguồn nước nóng, nhiều dị thường râ't cao về địa hóa và địa nhiệt các hoạt động nứt trượt đất ờ nhiều nơi. ĐỨT GÃY Ở VIỆT NAM 767 Trên ánh vệ tinh và bản đổ mô hình số độ cao, các đứt gãy thuộc đới đứt gãy Son La - Hà Trung thường trùng với các thung lũng sông hoặc phân diên ra hoạt động chúc chìm đóng kín một nhánh của đại dương Tethys và đụng độ của hai khối lục địa cố Đông Dương (Indochina) và Nam Trung Hoa. chia một bên địa hình cao với một bên là địa hình Đới khâu Sông Mã có chiểu rộng từ lOkm đến trưng bình đến thấp, tạo thành một chuỗi vách đứt gãy - ở Chiềng Cọ, đứt gãy này phân chia 2 bậc địa hình phía tây nam là dãy Xu Xung Chạo Chai cao 1.500 - 2.000 m, trong khi phía đông bắc là cao nguyên đá vôi cao 600 - 700m; ở các vùng Mai Châu, Thuận Châu, dọc theo đoạn đứt này có hàng loạt các vách đứt gãy dôc đứt cắm về ĐB. Đoạn từ Chiềng Cọ đến Chiềng Ve dãy đứt gãy tạo thành thung lủng hẹp với các vách đứt gãy dốc đứng cắt sườn các dày núi Phu Ca Hiên, Phu Sang, Phan Co Phiên dọc biên giới Việt - Lào. Đoạn từ Chiềng Ve về Bá Thước đứt gãy chạy trùng với các thung lũng suối hẹp. ơ vùng Bim Sơn và Nga Sơn các đứt gãy chạy trùng với các thung lùng song song dạng tuyến ở phẩn phía nam và dãy đá vôi Tam Điệp. Đừt gãy Sông Mã Cắp hạng: Câp II Quy mô: Đứt gãy có tổng chiểu dài hơn 400km. Khởi đầu ở điếm giao cắt với đứt gãy Tuần Giáo phương kinh tuyến, ở phía đông Mường Ảng đứt gãy Sông Mã chạy theo phương ĐN dọc lòng sông Nậm Khon, sỏng Mã, qua thị trâh Sông Mã đến vùng Chiềng Khương và sang lãnh thô Lào, sau đó trớ lại lãnh thổ Việt Nam ỡ khu vực Mường Lát, rồi kéo dài qua địa phận các huyện Mường Lát, Quan Hóa, Lang Chánh, chìm xuống dưới đổng bằng Thanh Hóa và kéo dài ra vịnh Bắc Bộ [H.3]. Đới có kiến trúc râ't phức tạp, phát triển nhiều nhánh phụ, chủ yếu là trên cánh ĐB. Trên phần lỏn chiều dài của đới có kiểu kiến trúc song song. Nhìn chung, đới có mặt trượt gần thẳng đứng nghiêng về hướng ĐB, mặt trượt của phần lớn các đứt gãy phụ có hướng nghiêng vào đứt gãy chính hoặc hướng vào nhừng đứt gãy có mặt trượt nghiêng vào đứt gãy chính. Thòi gian sinh thành: Đứt gãy Sông Mã sinh thành vào đầu Paleozoi sớm, trải qua lịch sử phát triển lâu dài và tái hoạt động mạnh vào Kainozoi. Kiểu động hình học: Trong Kainozoi, hoạt động kiến tạo ở đứt gãy Sông Mã chi thể hiện ở các biến dạng giòn với hai pha dịch chuyến chủ yếu diễn ra từ Oligocen đến nay. Pha chuyển động trái phát triển kế thừa các đới biến đạng dẻo Sông Mã, xảy ra đổng thời với hoạt động dịch chuyển trái của đới đứt gãy sỏng Hổng. Từ Pliocen đến nay, các dâu hiệu dịch trưựt bằng phải ghi nhận được ờ nhiều điểm dọc theo hệ thống các đứt gãy và vẫn tiếp tục hoạt động gây động đất trong giai đoạn hiện tại. Biên độ dịch chuyến: Biên độ dịch trượt bằng phải đạt tù 900m đến 1.700m trong Đệ Tứ. Phức hệ vặt chất và kiến trúc đi kèm: Đứt gãy sông Mã là thành viên của đới khâu cổ cùng tên, nơi từng 25 - 30km. Câu tạo nên đới khâu là các kiến trúc vảy cắm vể phía đông bắc, các vảy gồm đá phiến lục, đá phiến glaucophan, đá hoa, đá phiến kết tinh (hệ tầng Sông Mã), đá silic, serpentinit, dunit, gabro (các phức hệ Bó Xinh, Pắc Nậm và Núi Nưa) và plagiogranit (phức hệ Chiềng Khương). Trải dọc đứt gãy Sông Mã hiện tại là đới biến dạng quy mô lớn và phức tạp. Đới biến dạng Sông Mã được tạo thành từ một tô hợp các đá biến chât không đổng đểu, thành phẩn nguyên thuỷ khác nhau, với khối lượng chủ yếu gồm các thê siêu mafic thuộc các phức hệ Núi Nưa, Pắc Nậm, mafic (gabro, gabrodiabas, gabrodiorit), phun trào basalt, trầm tích lục nguyên silic, lục nguyên carbonat đến thuần lục nguyên thuộc phức hệ Bó Xinh và một sô khôi plagiogranit bị ép phiến kéo dài theo phương TB-ĐN. ơ một vài mặt cắt có thế quan sát thấy các thể tường diabas xuyên cắt cấu trúc. Các đá ở phẩn rìa đới thường có mức độ biến châ't cao hơn các đá phân bố ở trung tâm của đới, tuy có cùng thành phần thạch học ban đẩu, tương ứng với phần thấp của tướng amphibolit, chủ yếu đạt đến tướng epidot-amphibolit và 4 tướng đá phiến lục. Các đá nêu trên thường có cấu tạo phân phiến với phương phân phiến là TB-ĐN, góc dốỉc thay đổi từ thoải đến dốc đứng do liên quan đến hoạt động uốn ép tiến triển trong quá trình biến dạng. Đặc biệt, dọc theo lòng sông Mã các đá biến chất, biến dạng với mặt phiến dốc đứng và bị uốn nếp với trục gần như thẳng đứng. Các đá trong đới biến dạng Sônẹ Mã thê hiện quá trình uốn nếp phức tạp và đa pha. Ở phẩn trung tâm của đới, dọc theo lòng sông Mã hiện nay, các đá cho thây râ't rõ quá trình uốn nếp liên quan vói chuyên động trượt bằng phải. Đặc biệt, trong mặt cắt từ Mai Son đi Chiềng Khương, đã phát hiện đới mylonit đến siêu mylonit kéo dài theo phương TB-ĐN, với định hướng kéo dài của các khoáng vật theo phương gần nằm ngang với góc cắm về phía đông của tuyến trượt dao động trong khoảng 50° đến 20°. Các đới mylonit với các đặc điểm tương tự có thể quan sát thấy ở nhiều nơi khác dọc đới Sông Mã. Tuối của hoạt động biến chât và biến dạng dẻo tập trung trong khoảng 245 đến 250 tr.n., ứng với khoảng cuối Permi - đẩu Trias. Những dấu hiệu khác: Đứt gãy Sông Mã được thể hiện trên bản đổ dị thường trọng lực Bouguer là câu trúc âm tương đôi, với các đường đổng mức khép kín cục bộ nhỏ, giá trị dị thường trọng lực Bouguer thay đối trong giới hạn từ -100 đến -5 mGal. Đứt gày này được phản ánh trên tài liệu từ hàng không bằng câu trúc âm tương đối, với các dị thường cục bộ nhỏ thành chuỗi có giá trị thay đổi trong khoảng từ -200 đến -10 nT. Bể dày vỏ Trái Đâ't biến động trong 768 BÁCH KHOA THƯ ĐỊA CHÂT phạm vị 30-32km tại khu vực Tình Gia (Thanh Hoá) Biên độ dịch chuyển: Biên độ dịch chuyên trượt bằn^ và 32-34km tại khu vực thị trấn Sông Mã. Mặt trái trong Đệ Tứ đạt từ l.OOOm đến 1.800m. Conrad chỉ nằm ở độ sâu 12-14km trong khi độ sâu tới móng kết tinh có nơi đạt cỡ 2-3km. Hoạt động động đất mạnh và tiềm năng phát sinh những trận động đất lớn với Mmax = 6,8 độ Richter. Hoạt động hiện đại của đứt gãy Sông Mã rât mạnh - xuât hiện nhiều nguồn nước nóng, nhiều dị thường rất cao về địa nhiệt và địa hóa, các hoạt động nứt trượt đâ't và đặc biệt là hoạt động động đất. Đứt gãy Sông Mã thê hiện rõ trên địa hình và ảnh vệ tinh. Từ TB xuống ĐN có thế chia đứt gãy thành một SỐ đoạn: đoạn Mường Ang - Chiềng Khương là dải địa hình trũng thâp (dưới 400m) của lòng sông Mã nằm giữa hai dãy núi cao trên 1.250m; đoạn trên lãnh thô Lào dài hơn 70km là dải địa hình núi với độ cao gần l.OOOm nằm giữa một bên là dải núi dạng cao nguyên cao hơn 1.500m ở phía TTN và một bên là thung lũng sông Mã ở ĐB; đoạn Mường Lát - Lang Chánh dài gần lOOkm, là dải đổi núi dạng tuyến với các đỉnh cao 700-800m nằm giữa một bên là dãy núi cao trên 1.500m phía ĐB và một bên là dãy núi ĐB Phu Hoạt cao trên l.OOOm ớ phía TN; đoạn Thường Xuân - Tĩnh Gia đứt gãy thê hiện là dải đổi thấp dưới lOOm bị phân cắt ngang khá mạnh, rộng 3,5-4km kéo qua Yên Cát, Bến En dọc theo rìa phía tây đổng bằng các huyện Nông Cống, Tình Gia (Thanh Hóa). Đứt gãy Lai Châu - Điện Biên cắp hạng: Cấp I Quy mô: Đứt gãy theo phương á kinh tuyến bắt đầu tủ’ khu vực Mali Pho - Nậm Na (biên giới Việt -Trung) kéo dài qua Pa Tần, Chăn Nưa, Lai Châu, Mường Muôn, Mường Pổn, đến Tây Trang, tiếp tục sang lãnh thổ Lào và Thái Lan với tống chiều dài trên 800km. Trong phạm vi Việt Nam đứt gãy có chiều dài gần 180km [H.l]. Văn liệu thế giới cho thấy đứt gãy Lai Châu - Điện Biên là một tô phẩn của đới đứt gãy á kinh tuyến xuyên khu vực của bán đảo Đông Dương. Đây là một đứt gãy sâu, đóng vai trò là đường ranh giới quan trọng trong cấu trúc kiến tạo Đông Nam Ả. Thời gian sinh thành: Đứt gãy sinh thành vào cuối Trias, tiếp tục hoạt động trong Jura Từ Creta tới ngày nay, có thể ghi nhận được ít nhất 3 pha kiến tạo dọc đới đứt gãy Lai Châu - Điện Biên. Tuổi biến dạng từ 122-132 tr.n. (ứng với đẩu Creta sớm) đến 107-118 tr.n. (ứng với cuối Creta sớm) và hoạt động mạnh trong Kainozoi. Kiểu động hình học: Vào Mesozoi Lai Châu - Điện Biên là các đứt gãy nghịch, ngang phải. Trong lịch sử Kainozoi đứt gãy này đã trải qua 2 giai đoạn - giai đoạn Eocen - Miocen với kiểu hình động học trượt bằng phải, giai đoạn Pliocen - Đệ Tứ với kiểu hình động học trượt bằng trái - thuận. Phức hệ vặt chất và kiến trúc đi kèm: Dọc đứt gãy Lai Châu - Điện Biên phân bố nhiều loại trầm tích, phun trào và xâm nhập tuổi khác nhau, ơ cánh phía đông có mặt các trầm tích và trầm tích biến chất tuổi Neoproterozoi, Cambri - Ordovic, Ordovic muộn -Silur, Silur, Devon, Carbon, Trias giữa - muộn, các đá trầm tích phun trào Permi thượng, xâm nhập granitoid Permi và Trias. Ớ cánh phía tây là trâm tích Silur - Devon, trầm tích phun trào Carbon-Permi giữa và xâm nhập granit tuổi Permi. Đoạn từ Pa Tẩn đến Điện Biên nằm kẹp giữa các đứt gãy là một dải hẹp các trầm tích Trias trung - thượng. Có thê phân đứt gãy Lai Châu - Điện Biên theo 4 đoạn - Đoạn thứ nhất có phương á kinh tuyến kéo dài khoảng 25km từ biên giới Việt - Trung về phía nam. Trong đoạn này, có mặt một trũng kéo tách điên hình, kích thước cờ 2 X 1 km, minh chứng chuyển dịch trái cờ l.OOOm từ khi trũng hình thành. Đoạn thứ hai chạy dọc theo thung lũng bắt đẩu tại nơi giao nhau giữa đứt gãy Điện Biên với đứt gãy Sông Đà, kéo dài chừng 25km về phía nam. Đoạn thứ ba chạy từ vĩ tuyến 21,60° tới vĩ tuyến 21,88° kéo dài 30km dạng tuyến rõ nét. Đoạn thứ tư kéo dài vế phía đông thung lũng Điện Biên tạo thành một bồn trượt bằng tách giãn. Đứt gãy thuận chạy dọc sườn đông Điện Biên, nghiêng về phía tây tạo thành một bán địa hào. Những dấu hiệu khác: Đứt gãy Lai Châu - Điện Biên trùng với dải gradient ngang dị thường trọng lực cục bộ nối nhau với giá trị cường độ trung bình 1,0-3,5 mGal/km. Gradient ngang dị thường từ trùng đói đứt gãy này có biểu hiện là các dị thường cục bộ cùng phương có giá trị cường độ trung bình khoảng 3,05,0 nT/km, riêng đoạn đẩu đứt gãy sát Lai Châu có giá trị lớn hơn, khoảng 10,0-16,0 nT/km, đạt 4-6 km tại trung tâm trũng Điện Biên. Đới có biêu hiện là ranh giới phân chia đới cấu trúc các mặt cơ bản vỏ Trái Đất. Trên cánh tây của đới đứt gãy - độ sâu đạt tới mặt Moho có giá trị 34-36km và chìm sâu vể phía đông, đạt giá trị 36-38km trên cánh này. Tương tự, mặt Conrad biến đổi từ giới hạn 14-16km trên cánh phía tây xuống 16-18km trên cánh phía đông. Mặt móng kết tinh phát triến về hai cánh của đới đứt gãy có biếu hiện phức tạp. Đoạn phía bắc Lai Châu, đới là ranh giới sụt lún về phía đông (l-2km và 3-4km), tại đoạn Mường Lay là ranh giới sụt lún về phía tây (2-3km và lộ trên mặt đâ't), trong khi tại đoạn Điện Biên lại là ranh giới sụt lún về phía đông với biến động lớn. Trong thời gian qua đã xảy ra các trận động đàt lớn ở tây nam Điện Biên (năm 1935), ở Tuần Giáo (năm 1983), ơ Điện Biên (ngày 19/2/2001). Dự báo đái đứt gãy Lai Châu - Điện Biên nằm trong vùng phát ĐỨT GÃY Ở VIỆT NAM 769 sinh động đất mạnh với M max~ 6, 8 độ Richter. Hoạt tính kiến tạo hiện đại của đứt gãy này thế hiện râ't đa dạng, quan trọng nhất là hoạt động động đât và thành tạo các kiến trúc sụt lún tuổi Đệ Tứ. Tài liệu tham khảo C ao Đ ình Triều, Phạm H uy Long, 2002. K iến tạo đ ứ t gãy lãnh th ổ V iệt N am . N X B Khoa học và K ỹ thuật. 210 tr. H à Nội. N am . Tuyển tập báo cáo H ộ i n gh ị khoa học "60 năm Đ ịa chất Việt N a m ": 263-283. H à Nội. T rần V ăn Trị và Vũ K húc (Đ ồng chủ biên), 2009. Địa chât và Tài nguyên Việt N am . C ục Địa chất và K hoáng sản Việt N am . N X B Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. 589 tr. H à Nội. Vũ V ăn C hinh, N guyền N gọc Thuy, Bùi C ông H óa, 2004. Đ ặc điếm các đ ứ t gãy chính trong vùng Q uỳnh N hai-T han U yên, Tây Bắc Bộ. Tạp chí Đ ịa chất. Loạt A, số 285: 81-89. N guyền Đ ình X uyên, T rần V ăn Thắng, 2005. Địa chân kiến tạo ĩaTMHCKMM ÍO. n , 3opMHa KD.r., M hctakob A.A.,1984. và các v ù n g p h át sinh đ ộ n g đ ất m ạnh trên lãnh thô Việt OcOÕeHHOCTM pa3/!OM HOM TGKTOHMKÍ1 M n^OKHTaM CKOrO perM O H a. reomeKtnoHUKa, No 5: 73-82. Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ Lê D uy B ách. T ông hội Đ ịa chắt V iệt N am . Giới thiệu Dấu ấn đậm nét của các đứt gãy chính trong cấu trúc địa chât của Bắc Trung Bộ là phương TB - ĐN, thế hiện qua các đứt gãy Sông Cả, Rào Nậy, Hương Hóa -Huế và các nhóm đứt gãy nhỏ hơn đi kèm. Xa hơn về phía nam, các đứt gãy có xu hướng uốn dần vể phương á vĩ tuyến. Điểu này được thẻ hiện khá rò trong các đứt gãy Đăkrông - Đà Nằng, Tam Kỳ - Phước Sơn, Trà Bồng nằm ở vùng chuyên tiếp giữa miền uốn nếp tạo núi Trường Sơn và địa khối Kon Tum. Trong phạm vi Trung Trung Bộ biếu hiện rõ các đứt gãy theo phương kinh tuyến Pô Kô, Mộ Đức -Cheo Reo, đèo Mang Yang - An Trung, Quảng Ngãi -Củng Sơn. Nằm cắt qua các hệ thống đứt gãy vừa nêu là đứt gãy trẻ Sông Ba phương TB - ĐN. Cùng phương này còn có đứt gãy EaSup - Krông Pak đóng vai trò ranh giới giữa Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Danh sách các đứt gãy chính gồm: 1- Đứt gãy Sông Cả; 2- Đứt gãy Rào Nậy; 3- Đứt gãy Đakrông -Huế; 4- Đứt gãy Tam Kỳ - Phước Sơn; 5- Đứt gãy Trà Bổng; 6- Đứt gãy Pô Kô; 7- Đứt gãy Sông Ba; 8- Đứt gày Easup-Krong Pak [H.l, H.2]. Các đứt gãy chính Đừt gãy Sông Cả Cắp hạng: Cấp II Quy mô: Đứt gãy Sông Cả có dạng tuyến kéo dài tử trùng Đệ Tam Bản Ban thuộc lãnh thô Lào qua thị trấn Mường Xén chạy dọc theo dòng Nậm Mộ, qua Cửa Rào, chạy gần như trùng với dòng Sông Cả về Khe BỐđến Cây Tranh (huyện Anh Sơn) rồi dọc theo thung lũng sông Con qua thị trấn Tân Kỳ và kéo thẳng ra biển Cửa Lò thuộc địa phận Nghệ An, rồi chìm xuống dưới các trầm tích của thềm lục địa Thanh Nghệ. Tổng chiều dài trên phạm vi Việt Nam là 200km. Đứt gãy Sông Cả có phương TTB-ĐĐN và cắm vê phía tây nam. Đụ sâu ảnh hưưng của dứt gày khoảng 60km. Đứt gãy Sông Cả là đứt gãy chính của đới đứt gãy cùng tên. Thời gian sinh thành: Đứt gãy Sông Cả có lịch sừ phát sinh và phát triển lâu dài, trải qua nhiều thời kì biến cải hình động học từ giữa Paleozoi đến nay. Các thời kì chính là Dỉ - Ci, P2 - Ti, T3 - Ki và KZ. Trong giai đoạn Kainozoi, hoạt động của đới đứt gãy này thể hiện rõ nét với sự hình thành các bổn chứa than phân bố dọc hệ thống đút gãy chính và các đứt gãy nhánh. Kiểu động hình học: Tính chất chuyển động phải của hệ đứt gãy này bắt đầu từ khoảng 26 tr.n, ứng với Oligocen muộn. Hoạt động biến dạng trẻ nhât phát hiện được đi kèm với biến dạng dẻo biến chất thâp liên quan đến hoạt động kiến tạo căng giãn với phương căng giãn ĐB-TN (230°). Biên độ dịch chuyển: Trong Đệ Tứ biên độ dịch chuyển ngang (bằng phải) của đứt gằy khoảng 1.500 - 2.000m. Phức hệ vật chất và kiến trúc đi kèm: Đứt gãy Sông Cả gây phá hủy mạnh các thể địa chất Paleozoi, Mesozoi, khống chế sự thành tạo và phát triến của các kiến trúc Kainozoi. Các kiến trúc này phân bố thành hai dải dọc theo đứt gãy. Dải thứ nhất nằm dọc theo thung lũng sông Cả ở vùng Kỳ Sơn, Cửa Rào và Khe Bổ. Dải thứ hai phân bố ở Đôn Phục và

Tài liệu liên quan