HNUE JOURNAL OF SCIENCE
DOI: 10.18173/2354-1067.2019-0024
Social Sciences, 2019, Volume 64, Issue 5, pp. 43-51
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
CÁC HÌNH THC S HU RUỘNG ĐẤT
CỦA NGƯỜI THÁI SƠN LA TRƯỚC NĂM 1930
(QUA NGHIÊN CU LUT L CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN THUN CHÂU)
Trn Thị Phượng
Khoa S - Địa, Trường Đại hc Tây Bc
Tóm tắt. Nghiên cứu về ruộng đất của các địa phương là vấn đề ngày càng cấp thiết trong
việc quản , hoạch định các chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội các vùng, miền hiện
nay. Liên quan đến vấn đề sở hữu ruộng đất của một tộc người có số lượng dân cư đông đảo ở
Sơn La như tộc người Thái thì vấn đề này càng cần được làm rõ. Tuy nhiên, do những hạn
chế nhất định về nguồn tư liệu, cho đến nay có rất ít công trình đề cập đến nội dung này, bởi
vậy vấn đề ruộng đất của người Thái ở Sơn La còn tản mạn, chưa rõ ràng. Trên cơ sở đó, bài
báo tập trung làm rõ vấn đề các hình thức sở hữu ruộng đất của người Thái ở Sơn La trước
năm 1930 qua việc nghiên cứu Luật lệ của người Thái Đen ở Thuận Châu, từ đó rút ra những
đặc trưng trong vấn đề sở hữu ruộng đất của người Thái ở Sơn La.
Từ khóa: Sở hữu, ruộng đất, người Thái, Sơn La.
1.
Mở đầu
Từ trước đến nay đã có rất nhiu các công trình nghiên cu vvấn đề ruộng đất và ruộng đất
ở các địa phương trên nhiều khía cnh khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cu này chyếu tp
trung vào vấn đề tình hình ruộng đất ca cả nước nói chung, hoc mt stỉnh, địa phương nổi bt
ở vùng đồng bằng nói riêng như Thái Bình, Nam Định… Các công trình chuyên kho vrung
đất ca mt tnh miền núi như Sơn La, nhất là liên quan đến vấn đề ruộng đất ca các tộc người
như tộc người Thái số lượng còn rt ít, nhiu vấn đề vruộng đất nơi đây chưa được làm sáng t.
Các nghiên cu về người Thái từ trước đến nay chyếu là nhng nghiên cứu trên lĩnh vực
đời sng tinh thần, đời sng vt cht, những nét văn hóa đặc trưng, tổ chc xã hội… Riêng lĩnh
vc nông nghiệp trong đó có vấn đề ruộng đất còn khá khiếm tn, ít sliu cth. Liên quan trc
tiếp đến vấn đề ruộng đất của người Thái phi kể đến mt stác gitiêu biểu như Đặng Nghiêm
Vạn, Lã Văn Lô, Cầm Trọng… với nhng công trình Người Thái Tây Bc Vit Nam ca Cm
Trọng [1], hay Đặng Nghiêm Vn vi liệu v lch s hi dân tc Thái [2]
Bên cạnh đó, đã có một sbài viết liên quan đến vấn đề ruộng đất của người Thái ở Sơn La
đặc bit phi kể đến: Cm Trng, Hữu Ưng, Góp phn tìm hiu chế độ rung công hình thái
hi của người Thái Tây Bắc trước đây [3]; Đặng Nghiêm Vn, V vai trò của chúa đất trong
hi tn ti chế độ th ty, lang đạo, phìa tạo, chúa đất (cui thế k XIX, đầu thế k XX) [4]…
Ở Sơn La, vùng đất Thuận Châu, hay trước kia vi tên gọi châu Mường Muổi đã từng là
mt trong nhng trung tâm ln nht của người Thái do người Thái Đen thống tr. Vì vậy, để
nghiên cu các vấn đề liên quan tới người Thái ở Sơn La nhất định phi nghiên cu về địa danh này.
Ngày nhn bài: 1/3/2019. Ngày sa bài: 9/4/2019. Ngày nhận đăng: 25/4/2019.
Tác giliên h: Trn Thị Phượng. Địa che-mail: kimphuong11111990@gmail.com
43
Trn Thị Phượng
Hay nói cách khác, các vấn đề ruộng đất nơi đây là đại diện điển hình cho chế độ ruộng đất ca
người Thái ở Sơn La nói chung.
Hu hết lut tc ca các tộc người thiu số được lưu hành dưới hình thc truyn ming, có
thnói rng vic xut hin lut tục dưới hình thc luật thành văn phản ánh sphát trin ca tc
người Thái lên một trình độ tchc xã hội cao hơn so với nhiu tộc người khác. Trong lut tc
của người Thái phn ánh rt nhiu nội dung liên quan đến lut lệ, quy định, đời sng kinh tế, t
chc xã hi, thiết chế bản mường, ruộng đất, thuế khóa, đời sng tinh thần, tâm linh… Bản Lut
l của người Thái Đen Thun Châu cũng bao gồm nhng nội dung căn bản như vậy. Trong đó,
rt nhiu vấn đề liên quan ti quyn shu ruộng đất, các loi hình shu ruộng đất, cách thc
phân chia ruộng đất, tác động ca ruộng đất ti tchc xã hi ctruyn của người Thái...Thông
qua đó, phần nào chúng ta có thhiểu được nhng vấn đề liên quan ti ruộng đất của Sơn La
trước năm 1930.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1.
Khái quát chung
Bn Lut l của người Thái Đen Thun Châu có 2 bn dịch được đề cập đến trong 2 công
trình: 1. liệu v lch s hi dân tc Thái của Đặng Nghiêm Vn (chbiên), Nxb Khoa
hc Xã hi, Hà Ni, 1977 [2; tr.356-389], thuc phm vi Lut tc vi tên gi Tc l người Thái
Đen Thun Châu theo bn dch ca Tòng Kim Ân tbn chép tay bng mc tím trên giy hc
trò kh18x30cm. 2. Lut tc Thái Vit Nam (tp quán pháp) Ngô Đức Thnh, Cm Trng. Nxb
n hóa Dân tc, Hà Ni, 1999 [5; tr.66-183] vi tên gi Lut l của người Thái Đen Thun
Châu dch tbn chép tay sao li ca cụ Lò Văn Sôn trong những năm 1968 – 1973, tbn chép
tay ca cmo mường Lường Văn Hơn trước năm 1930. Theo dịch giCm Trng thì bn dch
trong cun Lut tc Thái Vit Nam đầy đủ hơn bản dịch cũ của Tòng Kim Ân, nhng xét vni
dung cơ bản ging nhau.
Bn Lut l người Thái Đen Thun Châu dùng những trang, dòng đầu tiên nói vgc tích
và dòng dõi ca mường và gii quý tc mường (phìa, to):
Ngày xưa người Thái Đen đất Hán, đưa nhau xuống “ăn” Mường Lò.
Mường bản đầy người, Mường tr nên “chật nơi ăn, hẹp nơi ở”
C ch Lng (Lạn) Chượng h Cầm đã tập hp 12 h người Thái, gm: Ngn, Ni,
Lường, Cà, Quàng, Tòng, Leo, Vi, Lù, La, lên đất Thái như bây giờ” [5; tr.66].
Ni dung bn Lut lệ được chia làm XVII phn, vi 3 ni dung ln: thnht, vấn đề cơ cấu
quyn lực và kèm theo đó là các quyền li vvt cht và tinh thn ca tng lp quan li, chc
dịch được quan tâm hàng đầu; thhai, các lut lxpht nhng hành vi phm ti, to nên quy
định mang tính cht pháp lut trong bản mường; thứ ba, cũng giống như hương ước của người
Vit, Lut l của người Thái Đen rất chú ý đến các phong tc nghi lễ ở phm vi toàn mường, bn
cũng như ở mỗi gia đình. Và dĩ nhiên trong 3 nội dung lớn đó những vấn đề liên quan đến rung
đất cũng được đề cp và phn ánh trên nhiều phương diện khác nhau.
Trong toàn bni dung bn Lut l không hề đề cp ti loi ruộng tư nhân nào mà chỉ đề cp
ti vic phân chia ruộng đất công hay người Thái gọi là “ruộng toàn mường” [1; tr.179]. Ging
như nhận định ca Cm Trng trong Người Thái Tây Bc Vit Nam, Ruộng toàn mường (ná
háng mướng). Đây loại rung công chiếm toàn b rung trong các châu mường” [1; tr.172].
Vic phân bruộng toàn mường thuc vbmáy thng trquý tc các châu mường. “Cho đến
trước năm 1935 người Thái chưa khái niệm hữu ruộng đất. “Ruộng toàn mường” phân theo
đơn vị trú chứ không theo đơn vị gia đình [1; tr.182-183]. Hay, “…Dù mường của người
Mường hay mường của người Thái thì chế độ ruộng đất trên bản công hu. Ly mc thi
44
Các hình thc s hu ruộng đất của người Thái Sơn La trước năm 1930 (qua nghiên cứu lut l
gian trước cuc cách mạng tháng 8 năm 1945. Tại Vit Nam, tài liu Dân tc hc cho thy
ngoi tr các mường không khu vc trung tâm của người Thái (thí d như các nhóm Thái
Ngh An) do h phân tán, khi thiên di đi tới đâu thì các gia đình, các dòng họ khai hoang ri
chiếm hữu nhân tới đó, còn vùng trung tâm, mc ruộng đã xuất hiện, nhưng với t l
không nhiu, còn lại trên bản hình thc rung công vn ph biến” [6; tr.21].
Ruộng toàn mường được to, phìa, chẩu mường thông qua tchc lão qun lí rt cht
(To (thao) vi phìa (phaya) đều biu thmt khái nim chung là thủ lĩnh mường nên trong tiếng
Thái mi ghép li thành to phìa. Song nếu phân loi thì trong khi to mang hai nghĩa vừa ch
người đứng đầu mường li va chcha, thì phìa (phaya) chcó một nghĩa là thủ lĩnh mường
thôi) [7; tr.323]. Tsqun lí
đó mà xã hội mi ny sinh chế độ phân brung gọi là “tánh
(sắp đặt rung) trong các châu mường [1; tr.184]. Ruộng toàn mường là stp trung quyn s
hữu toàn dân vào người đứng đầu trong mường như câu nói: “Đất án nha, rung của toàn mường
(đin án nha, na háng mướng). Như vậy, ruộng toàn mường mang ni dung ca mi quan hgia
toàn dân vi tchc chung là bản, mường đứng đầu là người đại din cao nht ca tng lp quý
tc vi bmáy thng trca nó.
Ruộng toàn mường được phân chia cho hai bphn sau: thnht: rung ca quý tc và chc
dch bao gồm người đứng đầu mường, các chc dch trong bản mường; thhai: rung ca nông
dân bao gm nông dân gánh vác và nông dân cuông, nhc, pa pái.
2.2. Các hình thức sở hữu ruộng đất
2.2.1. Ruộng của quý tộc chức dịch
a.
Ruộng toàn mường tới làm
Hu hết các “mường phìa” và các “châu mường” đều có loi rung gọi là “ n háy háng
mướng” nghĩa là “ruộng toàn mường ti làm”. Loại rung này ở “mường phìa trong châu” thì gọi
là “ n háy háng chu” hay còn gọi là “ mướng” [1; tr.190]. Như trong quy định ca Lut l
của người Thái Đen Thun Châu như sau:
Điều 101: Dân bn xng thuc ching, ăn hưởng rung gánh vác phi dắt trâu đến cày ba
ở “ruộng toàn mường ti làm” gọi là “tha X, tha Ln”:
- Mỗi đầu nhà “ông gánh vác” phải làm một buổi sáng.
- Các “ông gánh vác” làm rồi thì người ở bản nhốc cuông mới làm tiếp [5; tr.122].
Các loi ruộng toàn mường ti làm vn là nhng tha rung tt nht mà toàn mường dành ra
để chi dùng vào vic chinh chiến di dân. Đây là ruộng “của mường” nên mọi người có nghĩa
vphi cày cấy. Người Thái quan nim vic ti làm ruộng toàn mường ti làm cũng như đi vic
mường. Thóc lúa thu hoạch được nhp vào kho chung gọi là “día khẩu háng mướng” có nghĩa là
kho thóc toàn mường do viên quan trc tiếp phtrách [1; tr.191].
Khi đã có bản, mường thì vic sdng sn phẩm lao động việc mường của người sn xut
chứa trong kho chung đã có sự đảo ln gia cái chung và cái riêng. Mt mặt, người đứng đầu các
mường vn nêu cao khu hiu vì snghiệp “xây dng bản mường” để người lao động yên tâm
theo lệ đóng góp công trực tiếp, hoặc đóng góp vào kho thóc chung. Mt mt, họ ỷ thế là người
đại din cho bản mường mà coi día khẩu háng mướng là ca riêng. Việc đó lặp đi, lặp li nhiu
năm và dần dn biến thành lut tục. Đã là chẩu mường, phìa, to lng, to quen có toàn quyn s
dng sn phm trong kho thóc toàn mường. Hqun lí mi vic trong bản mường nên hbuc
phi sdng số thóc đó vào những công vic chung khi cn thiết như nuôi lính, tiếp khách, m
mang đường sá và đặc bit là làm các công trình thy li... Song nhng công việc được gi là
chung đó lại được tập quán coi như việc riêng ca họ. Do đó, khi sử dng sthóc trong kho chung
vào công việc hoàn toàn riêng, cũng được coi như hợp l. Chng hạn như các châu mường đều có
lkhi con cái chẩu mường, phìa, to cưới vthì bản mường hoàn toàn phi lo chi phí. Trong Lut
l của người Thái Đen Thun Châu cũng như vậy:
45