Các xung đôt kịch trong đoạn trích Vĩnh biệt cửu trùng đài

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 43 | Page: 10 | FileSize: 0.00 M | File type: PDF
Các xung đôt kịch trong đoạn trích Vĩnh biệt cửu trùng đài. Mâu thuẫn là yếu tố không thể thiếu để tạo nên hành động kịch. Từ những mâu thuẫn lịch sử, xã hội, nhà viết kịch dựng nên một “cốt truyện” trong đó có các nhân vật kịch, hành động kịch phát triển theo những tuyến xung đột khác nhau và dẫn tới kịch tính. Việc giải quyết mâu thuẫn trong kịch diễn ra theo các hồi, cảnh, hành động trước thúc đẩy hành động sau đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn kịch.
VĂN MẪU LỚP 11
CÁC XUNG ĐỘT KỊCH TRONG ĐOẠN TRÍCH VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG
ĐÀI
BÀI MẪU SỐ 1:
1. HS xác định đúng thể loại bài viết: nghị luận văn học.
2. Nội dung:
Đề bài này yêu cầu HS có những hiểu biết khái quát về tác phẩm kịch Vũ Như Tô
nói chung và đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài nói riêng. Để làm bài viết này, HS cần
nắm rõ những nội dung sau:
a. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với hôn quân bạo
chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa trụy lạc.
- Mâu thuẫn này trở nen căng thẳng khi Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài.
Triều đình ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống
đối. Thợ làm việc cần lực mà vẫn bị đói khát, bị ăn chặn. Dân căm phẫn vua làm cho dân
cùng nước kiệt; thợ oán Vũ Như Tô vì nhiều người chết bởi tai nạn, vì ôn cho chém đầu
những kẻ bỏ trốn.
- Tình hình đất nước đã tạo cơ hội thuận lợi cho các phe cánh nổi lên làm loạn. Lợi
dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn ấy, Trịnh Duy Sản “Kẻ cầm đầu phe cách đối
nghịch trong triều” đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản.
- Kết quả của mâu thuẫn này là: Lê Trương Dực bị giết, hoàng hậu nhảy vào lựa,
Đam Thiềm, Kim Phượng và các cung nữ bị bắt bớ, bị nhục mạ, Vũ Như Tô bị đem ra
pháp trường, Cửu Trùng Đài – hiện thân cho sự ăn chơi sa đọa của Lê Trương Dực, khát
vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô bị đốt thành tro.
b. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và
lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.
- Nguyên nhân sâu xa của mâu thuẫn này: Người nghệ sĩ thiên tài đầy hoài bão và
tâm huyết cũng không thể thi thố tài năng của mình để đem lại cái đẹp cho đời, niềm tự
hào cho dân tộc trong một chế độ thối nát, trong một đất nước mà nhân dân còn phải sống
triền miên trong đói khổ, lầm than.
- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, có khả năng “tranh tinh xảo với hóa
công”. Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thể hiện tài năng, thực
hiện những sáng tạo vĩ đại và chân chín. Không còn lựa chọn nào khác, ông “theo lời
khuyên của Đan Thiềm” đành mượn uy quyền và tiền bạc của tên hôn quân Lê Tương
Dực để thực hiện hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nguy nga, vĩ đại. Khát
vọng của Vũ Như Tô đã đẩy ông vào tình trạng đối lập với lợi ích trực tiếp và thiết thực
của nhân dân, ông bị coi như kẻ thù, là nguyên nhân cho những đau khổ, mất mát của họ.
Đây chính là bi kịch của Vũ Như Tô.
- Đến khi ra pháp trường, khi chứng kiến cảnh Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi, Vũ
Như Tô không thể hiệu được nhân dân cũng như nhân dân không hiểu được những khát
vọng sáng tạo nghệ thuật của Vũ Như Tô. Bởi lẽ, ông là người phụng sự cái đẹp, đứng
trên lập trường của người nghệ sĩ thuần túy. Điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế đời
sống của nhân dân. Cái chết của Vũ Như Tô, Đam Thiềm và việc Cửu Trùng Đài bị biến
thành đài lửa đã cho thấy tính chất khốc liệt của mâu thuẫn này.
BÀI MẪU SỐ 1:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
• Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có nhiều đóng góp về đề tài lịch sử thông qua thể
loại tiểu thuyết và kịch. Những tác phẩm của ông toát lên vẻ đôn hậu, thâm trầm. Nhà
văn luôn mơ ước dựng lên những bức tranh lịch sử hùng tráng, nhằm gửi gắm ý nghĩa
triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.
• Vũ Như Tô là vở kịch 5 hồi có quy mô hoành tráng, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu
Trùng Đài thuộc hồi cuối cùng của vở kịch. Thông qua các mâu thuẫn cơ bản, nhà văn đã
thể hiện tư tưởng nghệ thuật của vở kịch nói chung và đoại trích nói riêng.
2. Khái niệm mâu thuẫn trong tác phẩm kịch
Mâu thuẫn là yếu tố không thể thiếu để tạo nên hành động kịch. Từ những mâu
thuẫn lịch sử, xã hội, nhà viết kịch dựng nên một “cốt truyện” trong đó có các nhân vật
kịch, hành động kịch phát triển theo những tuyến xung đột khác nhau và dẫn tới kịch
tính. Việc giải quyết mâu thuẫn trong kịch diễn ra theo các hồi, cảnh, hành động trước
thúc đẩy hành động sau đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn kịch Trong một vở kịch có thể
có một hoặc nhiều mâu thuẫn song sự phát triển của toàn bộ vở kịch lại dựa vào những
mâu thuẫn cơ bản, nếu thiếu mâu thuẫn cơ bản sẽ không làm nên đặc trưng của tác phẩm
kịch.
• Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa,
xa hoa, trụy lạc.
Mâu thuẫn này có từ trước khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, là hậu quả tất yếu
của các giai cấp đối kháng trong xã hội. Vua Lê Tương Dực là ông vua ăn chơi sa đọa, để
thỏa mãn những thú vui của phe cánh mình, ông ta đã ra sức bóc lột tận xương, tận tủy
người lao động. Đến khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, mâu thuẫn này càng trở nên gay
gắt hơn gấp bội. Đến hồi V, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm, trong kinh thành tin dân
gặp nạn lụt lội, mất mùa, “dân gian đói kém nổi lên tứ tung”. Vũ Như Tô vẫn không nhận
ra được mục đích cuộc đấu tranh của nhân dân nên vẫn không ngừng đốc thúc thợ gấp rút
hoàn thành Cửu Trùng Đài. Thợ định nổi loạn. Hơn nữa Tương Dực không phải là một
ông vua yêu nước, thương dân, chăm lo cuộc sống cho dân nên đã gây ra “biến”, “loạn”
trong xã hội và lòng người, triều đình bấy giờ đang rất rối ren. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng
tình hình rối ren đó cầm đầu phe đối nghịch để lôi kéo thợ thuyền dấy binh nổi loạn giết
chết vua, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài, chấm dứt ước vọng một
đời của Vũ Như Tô.
HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu slideshare.vn bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên slideshare.vn
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  
43 lần xem

Các xung đôt kịch trong đoạn trích Vĩnh biệt cửu trùng đài. Mâu thuẫn là yếu tố không thể thiếu để tạo nên hành động kịch. Từ những mâu thuẫn lịch sử, xã hội, nhà viết kịch dựng nên một “cốt truyện” trong đó có các nhân vật kịch, hành động kịch phát triển theo những tuyến xung đột khác nhau và dẫn tới kịch tính. Việc giải quyết mâu thuẫn trong kịch diễn ra theo các hồi, cảnh, hành động trước thúc đẩy hành động sau đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn kịch..

Nội dung

VĂN MẪU LỚP 11 CÁC XUNG ĐỘT KỊCH TRONG ĐOẠN TRÍCH VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI BÀI MẪU SỐ 1: 1. HS xác định đúng thể loại bài viết: nghị luận văn học. 2. Nội dung: Đề bài này yêu cầu HS có những hiểu biết khái quát về tác phẩm kịch Vũ Như Tô nói chung và đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài nói riêng. Để làm bài viết này, HS cần nắm rõ những nội dung sau: a. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa trụy lạc. - Mâu thuẫn này trở nen căng thẳng khi Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài. Triều đình ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Thợ làm việc cần lực mà vẫn bị đói khát, bị ăn chặn. Dân căm phẫn vua làm cho dân cùng nước kiệt; thợ oán Vũ Như Tô vì nhiều người chết bởi tai nạn, vì ôn cho chém đầu những kẻ bỏ trốn. - Tình hình đất nước đã tạo cơ hội thuận lợi cho các phe cánh nổi lên làm loạn. Lợi dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn ấy, Trịnh Duy Sản “Kẻ cầm đầu phe cách đối nghịch trong triều” đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản. - Kết quả của mâu thuẫn này là: Lê Trương Dực bị giết, hoàng hậu nhảy vào lựa, Đam Thiềm, Kim Phượng và các cung nữ bị bắt bớ, bị nhục mạ, Vũ Như Tô bị đem ra pháp trường, Cửu Trùng Đài – hiện thân cho sự ăn chơi sa đọa của Lê Trương Dực, khát vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô bị đốt thành tro. b. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. - Nguyên nhân sâu xa của mâu thuẫn này: Người nghệ sĩ thiên tài đầy hoài bão và tâm huyết cũng không thể thi thố tài năng của mình để đem lại cái đẹp cho đời, niềm tự hào cho dân tộc trong một chế độ thối nát, trong một đất nước mà nhân dân còn phải sống triền miên trong đói khổ, lầm than. - Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, có khả năng “tranh tinh xảo với hóa công”. Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thể hiện tài năng, thực hiện những sáng tạo vĩ đại và chân chín. Không còn lựa chọn nào khác, ông “theo lời khuyên của Đan Thiềm” đành mượn uy quyền và tiền bạc của tên hôn quân Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nguy nga, vĩ đại. Khát vọng của Vũ Như Tô đã đẩy ông vào tình trạng đối lập với lợi ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân, ông bị coi như kẻ thù, là nguyên nhân cho những đau khổ, mất mát của họ. Đây chính là bi kịch của Vũ Như Tô. - Đến khi ra pháp trường, khi chứng kiến cảnh Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi, Vũ Như Tô không thể hiệu được nhân dân cũng như nhân dân không hiểu được những khát vọng sáng tạo nghệ thuật của Vũ Như Tô. Bởi lẽ, ông là người phụng sự cái đẹp, đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần túy. Điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân. Cái chết của Vũ Như Tô, Đam Thiềm và việc Cửu Trùng Đài bị biến thành đài lửa đã cho thấy tính chất khốc liệt của mâu thuẫn này. BÀI MẪU SỐ 1: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm • Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có nhiều đóng góp về đề tài lịch sử thông qua thể loại tiểu thuyết và kịch. Những tác phẩm của ông toát lên vẻ đôn hậu, thâm trầm. Nhà văn luôn mơ ước dựng lên những bức tranh lịch sử hùng tráng, nhằm gửi gắm ý nghĩa triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật. • Vũ Như Tô là vở kịch 5 hồi có quy mô hoành tráng, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài thuộc hồi cuối cùng của vở kịch. Thông qua các mâu thuẫn cơ bản, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nghệ thuật của vở kịch nói chung và đoại trích nói riêng. 2. Khái niệm mâu thuẫn trong tác phẩm kịch Mâu thuẫn là yếu tố không thể thiếu để tạo nên hành động kịch. Từ những mâu thuẫn lịch sử, xã hội, nhà viết kịch dựng nên một “cốt truyện” trong đó có các nhân vật kịch, hành động kịch phát triển theo những tuyến xung đột khác nhau và dẫn tới kịch tính. Việc giải quyết mâu thuẫn trong kịch diễn ra theo các hồi, cảnh, hành động trước thúc đẩy hành động sau đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn kịch Trong một vở kịch có thể có một hoặc nhiều mâu thuẫn song sự phát triển của toàn bộ vở kịch lại dựa vào những mâu thuẫn cơ bản, nếu thiếu mâu thuẫn cơ bản sẽ không làm nên đặc trưng của tác phẩm kịch. • Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa, xa hoa, trụy lạc. Mâu thuẫn này có từ trước khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, là hậu quả tất yếu của các giai cấp đối kháng trong xã hội. Vua Lê Tương Dực là ông vua ăn chơi sa đọa, để thỏa mãn những thú vui của phe cánh mình, ông ta đã ra sức bóc lột tận xương, tận tủy người lao động. Đến khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt hơn gấp bội. Đến hồi V, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm, trong kinh thành tin dân gặp nạn lụt lội, mất mùa, “dân gian đói kém nổi lên tứ tung”. Vũ Như Tô vẫn không nhận ra được mục đích cuộc đấu tranh của nhân dân nên vẫn không ngừng đốc thúc thợ gấp rút hoàn thành Cửu Trùng Đài. Thợ định nổi loạn. Hơn nữa Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước, thương dân, chăm lo cuộc sống cho dân nên đã gây ra “biến”, “loạn” trong xã hội và lòng người, triều đình bấy giờ đang rất rối ren. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng tình hình rối ren đó cầm đầu phe đối nghịch để lôi kéo thợ thuyền dấy binh nổi loạn giết chết vua, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài, chấm dứt ước vọng một đời của Vũ Như Tô. Như vậy, mâu thuẫn ở hồi V đã phát triển lên đỉnh điểm và được giải quyết triệt để theo đúng trình tự và kết cục của một vở bi kịch. Các nhân vật chịu cái chết khó tránh khỏi. Mâu thuẫn được giải quyết, hành động kịch cũng chấm dứt. • Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích trực tiếp thiết thực của nhân dân. Người nghệ sĩ thiên tài muốn cống hiến tài năng của mình để xây dựng cho đất nước tòa đài tráng lệ, làm vinh danh muôn đời. Ông là nhà kiến trúc sư tài năng, “tài trời”, “ngàn năm chưa dễ có một”, “tranh tinh xảo với hóa công”, “chỉ vẩy bút là chim, hoa đã hiện lên”. Vũ Như Tô đã dành cả tâm hồn và thể xác của mình cho công trình kiến trúc trong tương lai sẽ tô điểm cho đất nước, vì vậy ông chấp nhận làm việc cho tên hôn quân, bạo chúa, mượn quyền uy để thực hiện hoài bão, dù bị thương nhưng ông vẫn tiếp tục xây Cửu Trùng Đài, thậm chí khi có thợ bỏ việc, ông không ngần ngại trị tội những người bỏ trốn. Nhưng thật chua xót vì hoài bão lớn lao đó mà ông vô tình đã đẩy nhân dân rơi vào vòng lao khổ, mất cả tính mạng và niềm tin. Trong con mắt của nhân dân, Cửu Trùng Đài không phải một công trình nghệ thuật mang đến hạnh phúc và lợi ích của họ, ngược lại nó là hiện thân cho sự ăn chơi xa hoa của vua quan triều đình, đem đến những tai họa và bất hạnh cho người dân. Như vậy khát khao nghệ thuật để rồi cống hiến và sống chết cho nghệ thuật chân chính của Vũ Như Tô lúc này lại đi trái với lợi ích và nhu cầu thiết thực của nhân dân. Muốn thực hiện đam mê nghệ thuật của mình, ông lại bị ngay nhân dân chống đối, họ coi ông là “thủ phạm”, “không hiểu” việc làm của ông. Trong hoàn cảnh đất nước phải sống lầm than như vậy, người nghệ sĩ không có cơ hội và điều kiện thể hiện khát vọng sáng tạo nghệ thuật, nếu muốn thực hiện ước mơ thì mâu thuẫn với nhân dân, ngược lại nếu đứng về phía nhân dân ông lại không thể nào thực hiện được lí tưởng nghệ thuật. Mặt khác, vì quá chú tâm vào nghệ thuật thuần túy, ông đã xa rời lợi ích của nhân dân, nghệ thuật đó đã thoát li đời sống, không được nhân dân ủng hộ và chính nhân dân là người đào thải nó. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới mâu thuẫn gay gắt không thể trì hoãn của tấn bi kịch. Nhưng đây cũng là mâu thuẫn không được giải quyết một cách triệt để vì cho đến lúc chết, Vũ Như Tô vẫn không nhận ra sai lầm của mình và vẫn “mơ mộng”: “Mà tôi thì không làm gì nên tội. Họ hiểu nhầm”, “tôi làm gì nên tội?”. Hai mâu thuẫn trên nối tiếp nhau tạo thành xung đột của vở kịch. Từ đó tác giả phơi bày bộ mặt xã hội trong đó có những mối quan hệ phức tạp đòi hỏi phải được giải quyết. Mức độ giải quyết tình trạng xung đột cho ta thấy rõ hơn tài năng nghệ thuật và ý đồ sáng tác của nhà văn. • Tổng kết Đoạn trích thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, xây dựng các hành động kịch nối tiếp nhau tạo nên những mâu thuẫn và đẩy xung đột kịch lên cao trào, từ đó bộc lộ tính cách nhân vật. Thông qua mâu thuẫn của vở bi kịch, Nguyễn Huy Tưởng thể hiện lòng trân trọng tài năng và tôn kính cái đẹp nghệ thuật nhưng đằng sau đó là nỗi niềm thương cảm của nhà văn với bi kịch của những tài năng siêu việt. BÀI MẪU SỐ 3: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử 5 hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm được Nguyền Huy Tưởng viết xong vào mùa hè năm 1941. Từ vở kịch, ba hồi đăng trên tạp chí Tri tân năm 1943-1944, Nguyễn Huy Tướng đã sửa lại thành vở kịch 5 hồi. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài thuộc hồi thứ V (Một cung cấm) của vở kịch Vũ Như Tô. Trong đoạn trích có hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa phe nổi loạn với phe Lê Tương Dực và mâu thuẫn giữa phe Trịnh Duy Sản với Kim Phượng và các cung nữ. Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn với phe Lê Tương Dực: Phe nổi loạn gồm nhiều nhân vật: dân chúng, thợ xây dựng Cửu Trùng Đài: các nhân vật này đã xuất hiện từ những đoạn trước. Trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, các nhân vật này chỉ xuất hiện qua lời của Đan Thiềm: Dân gian đói kém nổi lên tứ tung... khi dân nổi lên, họ nông nổi vô cùng. Các nhân vật này cũng xuất hiện qua lời của tên nội gián: Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch. Phe đối lập trong triều đứng đầu là Trịnh Duy Sản, sau Trịnh Duy Sản là Ngô Hạch, An Hòa Hầu. Mâu thuẫn trong hồi V đạt đến đỉnh điểm và được giải quyết trọn vẹn. Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Đây là mâu thuẫn bị chi phối bởi các mâu thuẫn khác và được các mâu thuẫn ấy làm cho tăng lên. Mâu thuẫn giữa phe Trịnh Duy Sản với Kim Phượng và các cung nữ: Trịnh Duy Sản coi Kim Phượng và các cung nữ là phương tiện hành lạc của vua Lê Tương Dực, chính vì vậy mâu thuẫn này cũng được đẩy lên đến đỉnh cao. Kim Phượng và các cung nữ đã lái sự căm ghét đó sang Đan Thiềm, Vũ Như Tô để mong thoát tội, mong thoát khỏi sự trừng phạt của phe nổi loạn. Mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô cũng được thể hiện rõ nét. Một bộ phận lớn thợ xây Cửu Trùng Đài tham gia cuộc nổi loạn do bị đói khổ, bị áp bức đến nghẹt thở. Họ oán giận triều đình, oán giận kiến trúc sư Vũ Như Tô và cả Đan Thiềm. Trong khi đó, Vũ Như Tô say sưa với công trình nghệ thuật, quên cả thực tế lòng dân. Đến khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, Vũ Như Tô vẫn cho là mình vô tội, còn muốn chứng minh sự quang minh chính đại của mình, còn hi vọng thuyết phục được An Hòa Hầu. Đặc biệt, Vũ Như Tô muôn sống chết cùng Cửu Trùng Đài, vì ông coi đó là lẽ sống của chính mình. Đây là mâu thuẫn giữa con người xã hội và con người nghệ thuật trong Vũ Như Tô Các mâu thuẫn trong đoạn trích gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và cuối cùng được giải quyết một cách trọn vẹn. Mâu thuẫn giữa quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích của nhân dân trong đoạn trích vẫn chưa được giải quyết dứt khoát. Điều này được thể hiện ở phần cuối của vở kịch. Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài. Bản thân Vũ Như Tô bị giết nhưng vẫn chưa nhận ra sai lầm của mình. Vũ Như Tô không đứng về phe Lê Tương Dực nhưng vẫn muốn hoàn thành công trình nghệ thuật. Chính tác giả cũng băn khoăn vì kết cục này. Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì nhân dân sẽ không rơi vào cảnh lầm than vì bản thân Lê Tương Dực không thể làm được. Tuy nhiên hành động giết hại Vũ Như Tô và phá hủy Cửu Trùng Đài lại thể hiện tính thái quá. Giá trị nghệ thuật trong công trình và công sức của nhân dân bỏ vào đó thật lớn lao, nếu có thể hoàn thành công trình trong một giai đoạn khác thì sẽ tốt hơn cho nghệ thuật và cho chính người dân. Đoạn trích thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ và hành động để khắc họa tính cách nhân vật. Đoạn trích còn thể hiện được tài dẫn dắt và đẩy xung đột kịch lên cao của tác giả. Tác giả giải quyết mâu thuẫn một cách tài tình. BÀI MẪU SỐ 4: Kết thúc lớp kịch thứ V, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm: ông Cả ! Đài lớn tan tành! ông cả ơi Ị Xin cùng ông vĩnh biệt! Giấc mộng lớn giờ đấy mới thực sự tan tành. Cái Đẹp, Cái Tài, tất cả đều thành tro bụi trong cơn biến loạn. Mới cố gắng gìn giữ, bảo vệ đều không thành, Xin cùng ông vĩnh biệt!Câu nói cuối cùng của Đan Thiềm nói lời vĩnh biệt mãi mãi với Như Tô và Cửu Trùng Đài, vĩnh biệt một giấc mộng nghệ thuật lớn lao, đẹp đẽ trong máu và nước mắt. Qua diễn biến của vở kịch, ta thấy thể hiện hai mâu thuẫn. a. Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa, trụy lạc của bọn tham quan bạo chúa với đời sống cơ cực, thống khổ của nhân dân lao động (nói gọn lại là mâu thuẫn giữa lợi ích của bậc chúa với quyền sống của dân chúng, tất yếu sẽ dẫn đến việc dân chúng nổi dậy diệt trừ tên bạo chúa và tất cả những kẻ bị xem là cùng phe cánh của hắn ở hồi cuối của vở kịch). Mâu thuẫn này chủ yếu thể hiện ở những hồi trước của vở kịch và đã được đẩy thành cao trào trong hồi cuối. Quá trình phát triển của mâu thuẫn đã chỉ ra tính chất tất yếu của hồi thứ V. Tóm tắt vở kịch cho thấy Lê Tương Dực vốn không phải là một ông vua thương dân, thương nước. Vua cho xây Cửu Trùng Đài tráng lệ là để mình cùng người đẹp Kim Phượng và lũ cung nữ ăn chơi hưởng lạc. Để xây Cửu Trùng Đài, vua ra lệnh bắt thuế, tróc thợ. Dân đói khát, điêu đứng vì mất mùa, càng khổ thêm vì vua đòi thuế một thì quan bổ gấp đôi. Thợ thuyền làm việc vất vả, nguy hiểm, lại bị ăn chặn nên đói khát, chết vì bệnh dịch và vì tai nạn. Trong những hồi trước, giữa tiếng đá đổ ghê người trên công trường xây dựng, nhiều người chết không thể lấy được xác, mùi xú uế bốc lên đến ngạt thở, thế mà vẳng từ xa lại là tiếng đàn địch, tiếng reo hò của vua quan và lũ cung nữ đang đánh trận giả bên Hồ Tây. Như vậy hỏi làm sao xã hôi lại không loạn, không biến ? Đây là lúc tức nước vỡ bờ, dân nổi can qua, các phe cánh nổi lên tranh giành quyền lực. Trong triều, ngoài nội, đâu đâu cũng loạn. Mâu thuẫn đã phát triển thành xung đột, thành cao trào. Kết quả là hôn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy sản giết chết. Nguyễn Vũ tự sát trong trò hề ngu trung, hoàng hậu nhảy vào lửa tự thiêu, Kim Phượng và đám cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ cửu Trùng Đài, hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Đực bị đốt thành tro bụi. Tiếc rằng cuộc nổi dậy ấy không mang lại điếu gì tốt đẹp hơn cho dân chúng bởi giang sơn sẽ rơi vào tay những kẻ cầm đầu cuộc phản loạn (tức phe cánh của Trịnh Duy Sản) mà bản chất cũng chẳng có gì đáng tin cậy. b. Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa niềm khao khát hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ với lợi ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân. Mâu thuẫn này xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của bi kịch: trong xã hội cũ, người nghệ sĩ thiên tài không có điều kiện sáng tạo, không thể thi thố tài năng. Trên thực tế, anh ta vẫn chỉ là một gã thợ thủ công vô danh tiểu tốt. Vì thế khi biết rằng có thể mượn tay bạo chúa Lê Tương Dực để thực hiện được hoài bão của mình thì Vũ Như Tô sẵn sàng chấp nhận tất cả, kể cả khi phải trả bằng cồng sức, tiền bạc của nhân dân, bằng mồ hôi, xương máu của những người thợ. Chính niềm khao khát vô biên đã khiến người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng, đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với dân chúng. Dù muốn hay không, Vũ Như Tô đã bất đắc dĩ trở thành kẻ thù của nhân dân. Cuối vở Kịch, dân chúng không chỉ nguyền rủa tác giả cửu Trùng Đồi mà còn nghe theo lời của những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn đốt phá tan tành Cửu Trùng Đài và trừng phạt tác giả của nó. Đây là lúc mâu thuẫn, xung đột kịch đã lên đến đỉnh điểm. Nếu như trong những hồi đầu, nó chi là mâu thuẫn tiềm ẩn, có vẻ mờ nhạt, thấp thoáng đằng sau mâu thuẫn thứ nhất, thì giờ đây, nó hầu như đã nhập vào làm một với mâu thuẫn thứ nhất. Thậm chí người dân hầu như không mấy quan tâm đến việc trả thù bạo chúa Lê Tương Dực vì việc này đã có phe cánh của Trịnh Duy Sản đảm nhiệm, mà chỉ chăm chăm truy diệt (phanh thây) Vũ Như Tô và người cung nữ “đồng bệnh” với ông là Đan Thiềm. Các mâu thuẫn nói chung thường chi có thể giải quyết bằng hai cách: hoặc triệt tiêu (phủ định dứt khoát hẳn một phía, để thắng lợi cho phía kia), hoặc hoà giải (điều hòa, cải biến cả hai phía). Chẳng hạn, với mâu thuẫn thứ nhất, nhân dân nổi dậy giết bạo chúa là xong, nhưng mâu thuẫn thứ hai, chỉ có thể giải quyết theo cách hoà giải. Thế mà xem ra đã không có một cuộc hòa giải nào. Cơ hội duy nhất để chờ hoà giải là Vũ Như Tô phải tạm trốn đi, chờ thời. Nhưng Vũ Như Tô vừa mù quáng vừa cố chấp nên cơ hội này bị bỏ qua. Ở đây, dân chúng còn hồ đồ, mù quáng hơn cả Vũ Như Tô. Họ những tưởng đốt Cửu Trùng Đài là xong xuôi mọi sự. Cửu Trùng Đài bị đốt, nhưng Vũ Như Tô vẫn không hiểu gì và không hề quan tâm đến lợi ích thiết thực của dân chúng. Ông đi ra pháp trường, bình thản nhận cái chết. Hai giá trị: Cái Đẹp và Cái Thiện đã không thể hoà hợp, chung sống với nhau. Cái Đẹp bị tiêu diệt thì Cái Thiện cũng không còn đất sống. Mâu thuẫn và tính khồng dứt khoát trong cách giải quyết mâu thuẫn của tác giả được thể hiện tập trung trong hồi cuối của vở kịch. Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, dân chúng trước sau vẫn không hiểu gì về việc sáng tạo của nghệ sĩ. Lúc trước, họ nguyền rủa việc xây Cửu Trùng Đài, giờ đây, họ hả hê đốt phá. Họ càng không hiểu nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như mộng lớn của hai nhân vật – hiện thân cho Tài – sắc này. Về phía khác, Đan Thiềm không cứu được Vũ Như Tô bằng lời khuyên của nàng, mặc dù trong mắt Vũ Như Tô, nàng là người tri kỉ, lại là viên ngọc quý, trí sáng như vầng nhật nguyệt Vũ Như Tô không thể và không bao giờ hiểu được việc làm của dân chúng và phe cánh nổi loạn, Nếu Vũ Như Tô nghe lời Đan Thiềm, trốn đi thì có thể mâu thuẫn sẽ được giải quyết theo một hướng khác chăng? Thực ra, đây là mâu thuẫn có lẽ không bao giờ và không ai giải quyết cho thật dứt khoát, ổn thỏa được. Bởi vì nó mang tính phổ quát và mang tầm nhân loại: thực chất là biểu hiện của mâu thuẫn giữa nghệ sĩ và nhân dân, giữa Cái Đẹp (thuần tuý, siêu đẳng) và Cái Thiện trong một số hoàn cảnh, trường hợp đặc biệt. Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết ổn thoả khi đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cùng nhu cầu về Cái Đẹp được nâng cao. Ngôn ngữ kịch trong đoạn trích hàm súc và giàu ý nghĩa. Tác giả đã dẫn dắt thành công các xung đột kịch, thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động. Diễn biến kịch xảy ra rất nhanh trong nhịp điệu bão tố. Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp. Tiếng reo, tiếng thét liên tục vang ra từ hậu trường góp phần tạo nên một không gian đầy bạo lực kinh hoàng, một bức tranh bi tráng. Việc đặt nhân vật trong không gian một cung cấm với các tên đất, tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố lịch sử làm cho vở kịch mang đậm không khí của hiện thực thời đại. Trong lời đề tựa viết một năm sau khi vở kịch ra đời, Nguyễn Huy Tưởng đã công khai bày tỏ nỗi băn khoăn của mình: Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải… Ta chẳng biết, cầm bụt chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm. Có thể hiểu thái độ, cách đánh giá của Nguyễn Huy Tưởng về Vũ Như Tô qua thái độ và cách đánh giá của Đan Thiềm đối với nhân vật này. Đan Thiềm cảm phục, trân trọng Vũ Như Tô nồng nhiệt đến quên mình, nhưng Nguyễn Huy Tưởng lại thận trọng tỉnh táo nhận ra Vũ Như Tô mới chỉ là nhân tài, chứ chưa phải là bậc hiền tài. Cái Đẹp mà Vũ Như Tô có thể tạo ra chỉ là tuyệt mĩ mà không tuyệt thiện. Chân lí chi thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia thuộc về đời sống dân chúng. Thái độ nhà văn chủ yếu là trân trọng Cái Tài, khâm phục hoài bão nghệ thuật to lớn và thông cảm với bi kịch của Vũ Như Tô, chứ không phải là thái độ ca ngợi một chiều. Trong vở kịch có những chỗ Nguyễn Huy Tưởng đã không đồng tình đối với nhân vật của mình, mặc dù Vũ Như Tô được khẳng định là thiên tài ngàn năm có một.

Tài liệu liên quan