TÌM
VỀ
VỚI
ÂM
THANH
NỘI
TẠI
SỰ
BIỂU
HÒA
GIỮA
TÂM
VẬT
Trong triết học có nêu hai quan niệm gồm “duy tâm” và “duy vật”, nhưng thực ra tâm và
vật là chỉnh thể thống nhất. Tâm con người thuộc tinh thần; thân thể, môi trường sống thuộc
về vật chất. Sự tác động qua lại tương hỗ giữa môi trường hoàn cảnh tạo nên mối quan hệ
giữa người với người, giữa người và vật. Thế nên con người vốn không thể tách rời khỏi vật
chất, tâm vô hình nếu tách rời khỏi vật chất hữu hình thì tâm không thể mượn một vật chất
gì để biểu hiện.
Tương tự, trong môi trường vật chất, nếu không có tâm làm chủ thì rất dễ bị vật chất làm
mê hoặc, đánh mất bản thân.
Chúng ta không những không thể tách rời giữa tâm và vật để xem xét đánh giá đồng thời
cũng không nên chỉ chú trọng một trong hai mặt: tâm và vật. Nếu nghiêng về một trong hai,
cuộc sống chúng ta nhất định sẽ có sự xung đột, thông thường người ta thiên trọng về vật
chất nhiều hơn. Nếu chúng ta đánh giá giá trị bản thân qua việc cân đo đong đếm những vật
chất sở hữu bên ngoài; ví dụ: cách ăn mặc, xe cộ, số tiền gửi ngân hàng để cho rằng đó là vật
bảo đảm cho tương lai mình.
Nếu cho rằng địa vị và giá trị con người tỉ lệ thuận với vật chất sở hữu thì bạn là con người
vật chất, giá trị của bạn bị phụ thuộc với những gì thuộc ngoại tại. Thực ra, bản thân của vật
chất không phân biệt tốt xấu đến mức tuyệt đối nhưng chúng ta thường dùng chúng để đánh
giá giá trị bản thân, lấy giá trị vật chất để phán đoán địa vị cao thấp của một người trong xã
hội: đây quả là một hiện tượng tâm lí kì quặc.
Nếu một người coi trọng vật chất, quên mất công năng nội tại của “tâm”, quên không
dùng “tâm” để thể nghiệm cuộc sống mà chỉ biết theo đuổi vật chất, dựa vào vật chất thậm
chí xem vật chất là một phần mạng sống của mình, như thế người đó chắc chắn là nô lệ của
vật chất. Khi bạn thành người nô lệ của tiền tài, chú trọng hưởng thụ vật chất sẽ tạo nên tâm
lí hư vinh hoàn toàn không có lợi cho sự thăng hoa của tinh thần và trưởng dưỡng nhân cách,
điều này được người ta nói là “nhọc vì vật chất”.
Tuy chúng ta không nên theo đuổi vật chất thái quá nhưng cũng không nên phủ nhận giá
trị của nó, hơn nữa càng không nên quá chú trọng, thiên hẳn về mặt tinh thần.
Theo tôi “tâm” trong quan niệm Nho giáo chính là “tâm” của chủ nghĩa nhân văn, “tâm”
trong Đạo giáo thiên về chủ nghĩa tự nhiên còn chữ “tâm” trong Phật giáo là “tâm” của chủ
nghĩa duyên sinh. “Tâm” theo chủ nghĩa nhân văn mà Nho giáo chủ trương có nội hàm là
“nhân”, “nhân” trong nghĩa nhân ái, tình yêu thương con người và vạn vật; “tâm” theo chủ
trương của Đạo giáo chỉ cho quan niệm về “đạo”; thông qua tâm để diễn dịch, phát huy ý
nghĩa của Đạo.
Theo Phật giáo, “tâm” do nhân và duyên tạo nên, nó chứa đựng một sức mạnh thực tiễn,
sức mạnh đó được gọi là Nghiệp. Nhưng muốn chuyển biến tâm phàm phu phiền não thành
tâm trí tuệ giải thoát thì không phải “nghiệp” nữa mà gọi là “đạo” hay còn gọi là Bồ-đề. Tuy
nhiên ở đây chúng ta cần hiểu chữ “đạo” trong Phật giáo không giống với “đạo” trong Đạo
giáo. “Đạo” trong Đạo giáo chỉ tự nhiên, còn “đạo” trong Phật giáo chỉ trí tuệ, giải thoát.
Tuy Nho, Lão, Phật có cái nhìn, có quan niệm khác nhau về “tâm” nhưng mục tiêu và xuất
phát điểm đều có điểm chung là mong muốn thay đổi khí chất của con người, chuyển động
vật tính trong con người thành nhân tính, sau đó lại cần phải siêu việt lên cả sự đối lập giữa
nhân tính và động vật tính. Quá trình siêu việt lên khỏi cái phàm tục, đi vào cõi thánh đó
được Phật giáo mệnh danh là giải thoát; Đạo giáo gọi là “trở về với tự nhiên”, Nho gia gọi là
“thành thánh thành nhân”. Từ điểm này chúng ta thấy rằng, Nho, Lão, Phật tuy có nhiều danh
xưng khác nhau về “tâm”, mục đích tối hậu có phần bất đồng, nhưng đều có một điểm chung
đó là cực kì coi trọng “tâm”.
KHÔNG
CÒN
CHẤP
TRƯỚC
THẤT
TÌNH
LỤC
DỤC1
Là con người ai cũng có thất tình lục dục, bản thân thất tình lục dục không phải là điều
xấu, thậm chí có lúc nó còn đóng vai trò là nguồn động lực cho cuộc sống chúng ta, tuy
nhiên sự cố chấp, bám víu vào thất tình lục dục lại là nguyên nhân chính mang lại đau khổ,
phiền não cho cuộc đời chúng ta. Muốn tránh đau khổ do thất tình lục dục mang lại, chúng ta
cần biết cách xả bỏ, không chấp trước, bám víu.
Có hai phương pháp giúp chúng ta xả bỏ sự chấp trước, một là “cách li tuyệt đối”, dứt
khoát từ bỏ thất tình lục dục, dùng biện pháp “tuyệt duyên” (tức là chấm dứt tuyệt đối những
điều kiện nảy sinh thất tình lục dục). Ví dụ sống ẩn cư trong rừng sâu núi thẳm, một mình tu
tập hoặc xuất gia vào chùa tu tập. Tuy nhiên dùng biện pháp mạnh “tuyệt duyên” này là công
đoạn khổ hạnh, lấy việc mắt không thấy sự hấp dẫn quyến rũ là tịnh (giữ nhãn căn thanh tịnh
bằng cách không để nhìn thấy những sự hấp dẫn); tai không nghe tiếng là tịnh… cho rằng làm
thế là nhát dao cắt đứt nhiễm trước, cám dỗ. Tuy nhiên làm như thế vẫn chưa hẳn đã dứt bỏ
thực sự thất tình lục dục. Vì tuy đã tránh được môi trường hoàn cảnh đầy dẫy cám dỗ bên
ngoài nhưng trong tâm hành giả sự cám dỗ đó vẫn ấp ủ, nhen nhóm, vẫn có thể phát triển,
trỗi dậy khi điều kiện bên ngoài cho phép. Khi chúng ta tự tạo xung đột, tự gây mâu thuẫn
cho tâm lí như thế thì có nói là đoạn thất tình lục dục vẫn chưa thể thực hiện, vẫn chưa thể
thoát khỏi lưới dục vọng. Nhưng đây cũng là một biện pháp để trừ bỏ thất tình lục dục trong
Phật giáo. Biện pháp còn lại là dùng trí tuệ quán chiếu trong chính niệm để tăng cường sức
miễn dịch với cám dỗ, dụ hoặc bên ngoài. Khi trong lòng mình dấy lên thất tình lục dục,
chúng ta cần phải đối diện, nhìn thẳng vào chúng với một tâm thế trầm tĩnh và điều chỉnh
bản thân bằng cách quán chiếu đối trị theo từng đối tượng cụ thể. Điều chỉnh tâm lí bằng
cách quán niệm tuy nói dễ nhưng rất khó thực hiện. Nó thực sự là điều rất khó đối với phần
đông mọi người. Ví dụ bạn đối diện với các dụ hoặc, cám dỗ như sắc đẹp, danh lợi, địa vị,
quyền thế rất khó ngăn lòng, chế ngự. Nhất là những cám dỗ đó có người chủ động mang lại
cho bạn. Nếu bạn mất chính niệm, trôi theo cám dỗ, đến lúc nào đó bạn phát hiện mình đang
chạy theo cám dỗ mới dừng lại thì rất khó!
Dùng chính niệm điều chỉnh thân tâm tức là hướng tâm mình nhìn vào bên trong chính
mình, không nên hướng ngoại, vì khi tâm bạn hướng ngoại rất dễ bị ngoại vật làm lung lay,
nao núng. Ví dụ khi bạn nhìn thấy sơn hào hải vị, nếu biết hướng tâm vào trong, tập trung sức
chú tâm vào bản thân để theo dõi phản ứng của lòng mình, bạn thử quan sát và tự hỏi, chút
thức ăn ngon kia có thể giúp mình đủ năng lượng để đi bao nhiêu bước, khi bạn biết đặt câu
hỏi và trở về theo dõi tâm như thế, chắc chắn bạn sẽ ngăn được sự cám dỗ của thức ăn.
Điều tâm, luyện tâm cần hành giả tập trung cao độ và thực hành suốt trong thời gian dài.
Như thế khi gặp cảnh bất trắc và những sức cám dỗ mãnh liệt, có tính kích thích mạnh khác
hành giả mới có thể lập tức điều tâm, tránh bị ngoại vật chi phối.
Thực ra chúng ta có thể áp dụng cả hai biện pháp “cách tuyệt” và “quán niệm điều chỉnh”
trong quá trình tu tập. Cách tuyệt ví dụ như người chưa nghiện không cho tiếp xúc với các
thứ gây nghiện như bia rượu, thuốc lá, thuốc phiện… Bước đầu tiên bạn tránh xa nó, không
để các giác quan mình có cơ hội tiếp xúc với chúng. Đây là bước dễ làm. Tuy nhiên cũng có
những thứ chỉ cần vướng vào rất ít đã gây nghiện. Vì thế bất kì ở đâu và lúc nào chúng ta
cũng cần chính niệm, lúc nào cũng cần các biện pháp cách li để tránh tiếp xúc.
Ngoài ra, chính thói quen chúng ta cũng là một thứ cám dỗ. Ví dụ có người có thói quen
cắp vặt, những người bị thói quen này thường ăn cắp những đồ vật mà mình thấy có thể đánh
cắp để thỏa mãn thói quen chứ không nhất định xuất phát từ nhu cầu cần sử dụng, thậm chí
là mình đã có thừa những thứ đó. Một người ăn cắp vặt đã thành thói quen, hễ thấy đồ vật có
thể đánh cắp được đều là một cám dỗ khó bỏ qua, dường như người đó cảm thấy nếu không
lấy vật kia thấy có lỗi với mình, thấy mình buồn bực không yên, đó là một thói quen xấu thậm
chí còn là một căn bệnh khó chữa. Khi bạn mắc phải thói quen đó, muốn chữa, trước hết bạn
nên tìm một thói quen tốt khác để thay thế. Ví dụ, khi bạn muốn đánh cắp vật đó, bạn nghĩ
ngay rằng mình phải đi xa chỗ có vật đó đồng thời bạn nghĩ đấy không phải là thứ mình thích,
không phải thứ mình cần, không nên lấy nó làm gì. Bất luận dùng biện pháp nào để tránh sức
cám dỗ thất tình lục dục bạn cũng phải tập trung cao độ.
Khi đối diện với các thứ cám dỗ, điều đầu tiên bạn có thể làm là tránh xa nó, sau đó bạn
dùng chính niệm quan sát tâm mình để làm chủ mình, chuyển biến tâm lí xấu thành tốt. Bạn
cứ tập dần như thế, bản thân nó là một việc tu hành, tập đến một mức nào đó, lòng tham
muốn đối với các cám dỗ đó sẽ giảm nhẹ dần, nhạt dần, và bạn phải tập cho đến khi trừ bỏ
hết thất tình lục dục trong tâm.
LƯƠNG
TÂM
Trong suốt cuộc đời chúng ta phải đối diện với nhiều sự lựa chọn, có lúc chúng ta sẽ trung
thành với những lựa chọn đúng với lương tâm mình, có lúc lương tâm và tham muốn phải đấu
tranh, giằng co nhau. Trạng thái tâm lí do dự với những lựa chọn mang tính quyết định đó
người ta thường gọi là “cuộc giao tranh giữa trời và người” đây quả thực là vấn đề nan giải