Chương XV: BIG WINS REQUIRE BIG RISKS
GanLàmGiàu!
Ảnh
Các công ty cần phải chấp nhận rủi ro lớn nếu không muốn bị đào thải. Giữa các dự
án thiết kế máy bay và các dự án nghiên cứu AND có gì giống nhau? Cả hai đều cần
phải chấp nhận rủi ro để thành công
và cần có một luồng lưu chuyển thông tin kỹ
thuật số hoàn chỉnh để thúc đẩy nghiên cứu khoa học. Cả hai ngành công nghiệp đều
đời hỏi nhữngđiềutốt nhất trongviệc quảntrị tri thức và kỹthuật sảnxuất hiệnđại.
“Nếu bạn muốn xem xét những mình đang làm để đánh cuộc vào tương lai
của công ty, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện điều này. tôi tin
chắc rằng chúng ta sẽ làm được.”
T. WILSON
Tổng GiámĐốc Boeing, 1972 - 1988
Để có thể thống trị
thị
trường bạn cần phải
có cái
mà tác giả chuyên viết về thương mại
kiêm
chuyên gia tư vấn kinh doanh Jim Collins gọi là “những mục tiêu to lớn, táo bạo”. Bạn không thể chỉ
nhìn vào quá khứ hoặc hiện tại của thị trường. Bạn cũng phải nhìn xem thị trường sẽ đi về đâu, nó sẽ
biến đổi như thế nào trong những hoàn cảnh cụ thể, và định hướng cho công ty của bạn theo những dự
báo tốt nhất mà bạncó được. Để thắnglớn, có đôi khi phải chấp nhậnrủi ro lớn.
Một sự đánh cược lớn có nghĩa là thất bại lớn hoặc thành công lớn. Tôi đã kể cho các bạn nghe
những thất bại của Microsoft trong chương 11 và những bài học từ thất bại đã giúp chúng tôi thay đổi
sản phẩm và chiến lược như thế nào. Ngày nay, nhờ những bài học muộn màng đó, có thể nói rằng
thành công hiện nay của Microsoft đã được định trước. Tuy nhiên, ở thời điểm chúng tôi đánh cuộc
lớn nhất - kể cả khi thành lập Microsoft, công ty phần mềmmáy tính cá nhân đầu tiên - mọi người đều
chế nhạo chúng tôi. Nhiều công ty công nghiệp hàng đầu không dám chuyển sang công nghệ mới vì sợ
mất đi những thành công trong công nghệ hiện thời của họ. Họ đã học một bài học đáng giá. Nếu bạn
không dám chuyển sang công nghệ mới vì sợ mất đi những thành công trong công nghệ hiện thời của
họ. Họ đã học một bài học đáng giá. Nếu bạn không dám chấp nhận rủi ro sớm, về sau bạn sẽ tụt hậu
trên thị trường. Tuy nhiên, nếu bạn đặt cược lớn, thì chỉ cần một phần nhỏ trong đó thành công cũng đủ
bảo đảmcho tươnglai của bạn.
Những mục tiêu táo bạo hiện thời của Microsoft bao gồmviệc tăng khả năng làmviệc của máy tính
cá nhân vượt lên tất cả những hệ thống hiện có, biến máy tính thành một công cụ “biết nhìn, nghe, đọc
và học hỏi”, đồng thời tạo ra những phần mềmhỗ trợ những thiết bị cá nhân mới của bạn. Những sáng
kiến này là sự trả lời của Microsoft trước sự thúc bách của kỹ thuật số, trong đó mọi thiết bị sẽ dùng
công nghệ kỹ thuật số và phối hợp được với nhau. Không ai biết những dự án này có thành công hay
không. Chỉ có một điềuchắc chắn: Chúngtôi phải chấp nhậnrủi ro để có một tươnglai bềnvững.
Chấp nhận rủi ro là điều bình thường trong ngành công nghệ mới phát triển. Công nghiệp máy tính
hiện này nếu xét về mặt thời gian, cũng còn là một ngành non trẻ như xe hơi những năm 1910 hay máy
bay những năm 1930. Những ngành công nghiệp này đã phải trải qua những thay đổi kinh doanh và kỹ
thuật tận gốc rễ thậmchí có khi hỗn loạn mới có được sự trưởng thành ngày nay. Và ngành công nghiệp
máy
tính
cũng
đang
vào
giai
đoạn
tương
tự.
Cụm từ
ngành
công
nghiệp
trưởng
thành
(mature
industry) ý nói rằng mức độ rủi ro ít hơn, nhưng trong những ngành công nghiệp phát triển, khi mọi
công ty đều ngang hàng nhau ở hầu hết các lĩnh vực, thì sự chấp nhận rủi ro là để công nghệ thông tin
có thể làmthay đổi mọi quy tắc kinh doanh là cách tốt nhất để có được những thành công vượt bậc về
sản phẩmcũng như thị trường. Nhân tố khác biệt cơ bản trong cạnh tranh sẽ làmcách thức các công ty
áp dụngphongcáchlàmviệc với web.
ĐÁNH CUỘC VÀO CÔNG TYSAU MỖI HAI MƯƠI NĂM
Ảnh
Là một trong những công ty sản xuất lớn nhất thế giới, Boeing có phong
cách làm việc truyền thống là đánh cuộc tương lai của công ty vào những sản
phẩm hàng không tiên tiến sau mỗi 20 năm. Trong thập niên 1930, Boeing đầu
tư vào một loại máy bay ném bom mới, về sau trở thành loại B-17 vang danh
trong Thế chiến thứ hai. Vào những năm 1950, Boeing lại lao vào thử nghiệm
chiếc máybayphảnlực chở kháchđầutiênở Hoa Kỳ, chiếc 707, và năm1968
Boeing sản xuất chiếc máy bay chở khách khổng lồ đầu tiên, chiếc 747, mà
không cần đơn đặt hàng nào để có thể tính đến việc huề vốn. Nếu như một
trongnhữngdự ánkể trênthất bại, Boeingchắc hẳnđã phá sản.
Đến những năm 1990, thử thách kế tiếp cho toàn sự nghiệp của Boeing là
thế hệ máy bay chở khách kế tiếp, chiếc 777. Đây là chiếc máy bay đầu tiên
thiết kế hoàn toàn bằng kỹ thuật số, và là sản phẩm đầu tiên của Boeing sử
dụng công nghệ bay vô tuyến, với hệ thống điều khiển hoàn toàn bằng máy tính,
loại bỏ tất cả những đường cáp nặng nề của hệ thống cơ khí. Và nó cũng là
chiếc máy bay Boeing đầu tiên được chế tạo với sự hợp tác của những công ty
cung ứng quốc tế, tạo nên nhu cầu hợp tác kỹ thuật số. Nhu cầu này lớn đến nỗi
Boeing phải thiết lập một đường cáp quang riêng xuyên Thái Bình Dương, nối
với Nhật Bản để truyền tải thông tin. Vấn đề kỹ thuật quy mô lớn này đòi hỏi
phải có đủ bản lĩnh để đi tiên phong, chấp nhận rủi ro lớn, nhưng đồng thời
cũnghứa hẹnthànhcôngvĩ đại.
Thiết kế tự động hóa thay phung phí tự động hóa
Có hai sự kiện đã thuyết phục công ty Boeing rằng họ cần phải tiến vào lĩnh
vực kỹ thuật số. Cả hai sự kiện này điều xảy ra khi Phil Condit, hiện giờ là
tổng giám đốc Boeing, đang quản lý dự án 757 giữa thập niên 1980. Sự
kiện thứ nhất là yêu cầu về vốn cho một cỗ máy khổng lồ, để tự động làm ra các miếng chèn
(shim). Các miếng chèn là những tấm kim loại nhỏ được chêm vào giữa các linh kiện để ráp
chặt hơn. cỗ máy này có thể làm ra hàng loạt những miếng chèn như thế rất nhanh, ông ta từ
chối
yêu cầu này vì
coi
đó là một “sự phung phí
tự động hóa.” ông ta hỏi
liệu có thể nào
Boeing thiết kế được các loại máy bay với linh kiện khớp chặt nhau không cần miếng chèn
không?
Sự kiện thứ hai xảy ra cũng gần như cùng lúc. Boeing lúc đó đang sử dụng thiết kế kỹ thuật số
cho các dự án nhỏ. Trong số đó, có một dự án dùng thiết bị điều số để bẻ các ông nước bằng
titaniumthành những hình dạng nhất định theo mẫu thiết kế kỹ thuật số. Những ống đầu tiên làm
ra
phải
làm lại
không phù hợp với
mô hình. Tuy nhiên vài
ngày sau, có người
chỉ
cho
Condit một chỗ sai trên mô hình. Khi sửa lại mô hình xong, các đường ống khớp vừa chặt. Rõ
ràng hệ thống kỹ thuật số đã đúng và chính mô hình sai. Khi những linh kiện thiết kế bằng kỹ
thuật số được dùng để kiểm tra độ chính xác của các mô hình thay vì làm ngược lại, Boeing
biết rằngcầnphải có một phươngpháp mới.
Những mục tiêu chính của dự án là giảm mức độ sai sót, công việc phải làm lại và thay đổi xuống
còn 50%. Chiếc 777 thành công vang dội. Mô hình kỹ thuật số đã phát hiện hơn 10.000 điểmtrở ngại,
do các linh kiện không khớp nhau. Từ đó, các nhà thiết kế có thể sửa chữa trước khi đưa vào sản xuất.
Không có mô hình thiết kế kỹ thuật số, không thể phát hiện những sai sót này trước khi chiếc máy bay
được đưa vào sản xuất. Đến cuối dự án 747, mỗi ngày Boeing phải chi 5 triệu đôla cho công tác thiết
kế, chủ yếu là để thiết kế lại. Những chỉ phí này không hề có trong dự án 777. Khi chiếc Boeing 777
được chế tạo, các máy ngắmlaser cho thấy một cánh máy nằmthẳng hàng trong khi cánh bên kia lệch 2
phần ngàn của một inch (1 inch = 2,54cm) và với chiều dài 209 bộ (1 bộ = 0,3048m) thân máy bay chỉ
lệch có từ 3 đến 8 phần ngàn của một inch. Sự lắp ráp chính xác đến mức độ đó đã làm tăng mức độ
khí độnglực, hiệuquả sử dụngnhiênliệu, và bớt đi côngtác thiết kế lại trongthời gianlắp ráp.
Việc sử dụng thông tin kỹ thuật số Boeing không chỉ được mở rộn đến công việc thiết kế
sản xuất máy bay còn đến cả việc cài đặt các hệ thống máy bay. Trong một nhà máy,
các hệ thống thực tế ào cho công nhân nhìn thấy những phương diện, đường nước chạy
trong thân máy bay như thế nào. Boeing tin rằng những hệ thống kỹ thuật số đầu - cuối sẽ
giảm chi phí sản xuất máy bay từ 30% đến 40%, một con số cần thiết trong cuộc cạnh
tranh dữ dội trên thị trường sản xuất máy bay thương mại.
Luồng thông tin kỹ thuật số đã làm thay đổi cách thức hợp tác giữa Boeing và các nhà cung cấp
Nhật Bản, những người thiết kế thân máy bay và các loại linh kiện khác. Không có công cụ kỹ thuật số,
Boeing hẳn đã phải tạo ra tất cả những thiết kế này ở Seattle và gửi bản sao mô hình đến Nhật. Khi đó
Boeing sẽ phải chờ lúc hàng đã được làm xong và giao lại mới biết là mẫu thiết kế có bị lỗi hay
không. Nhờ côngcụkỹthuật số
Boeingtạo các thiết kế ảo và gửi đếnNhật, ở đó sẽ có nhữngkỹsư địa phươngthực hiệnphầnthiết