Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 An Giang University ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ NỘI SINH ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Lê Thị Linh Giang1 1ThS. Phòng Khảo thí & Kiểm định Chất lượng, Trường Đại học An Giang Thông tin chung: Ngày nhận bài: 18/06/14 Ngày nhận kết quả bình duyệt: 27/09/14 Ngày chấp nhận đăng: 03/15 Title: Internal factors affecting students’ satisfaction towards training and education of a university Từ khóa: Yếu tố nội sinh, sự hài lòng của sinh viên, đặc điểm cá nhân sinh viên Keywords: Internal factors, students’ satisfaction, personal characteristics of students ABSTRACT This study aimed to examine internal factors affecting students’ satisfaction. Theoretical models have first conducted at An Giang University (AGU) via a mixed method of qualitative and quantitative research and the participation of 491 AGU’s students from 2012-2013. The finding showed that there is a relationship between students’ satisfaction and the following factors: (1) students’ needs, (2) internal and external personality of students, (3) current addresses of students, (4) students’ position in family, (5) fathers’ occupation, (6) mothers’ occupation, (7) mothers’ background education, and (8) students’ living cost. TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên. Mô hình lý thuyết chúng tôi đưa ra được kiểm chứng lần đầu tiên tại Trường Đại học An Giang, thông qua nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua khảo sát 491 sinh viên đang học tại Trường Đại học An Giang vào năm học 2012 – 2013. Kết quả phân tích cho thấy, có mối liên hệ giữa kết quả sinh viên đánh giá hài lòng với yếu tố về: (1) nhu cầu sinh viên, (2) kiểu nhân cách hướng nội/hướng ngoại, (3) chỗ ở hiện tại của sinh viên, (4) vị trí con trong gia đình của sinh viên, (5) nghề nghiệp bố, (6) nghề nghiệp mẹ, (7) trình độ học vấn của mẹ, và (8) mức sống của sinh viên. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ “Chú ý đến các nhu cầu cá nhân của người học và nhu cầu thị trường sức lao động sao cho các chuyên ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu của các đối tượng sử dụng” (Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải & Đặng Quốc Bảo, 2006). Quá trình nhà trường tìm hiểu các đặc tính nhu cầu của sinh viên (SV) sẽ là một trong những nhân tố cơ bản đảm bảo sự thành công trong giáo dục đại học, bởi lẽ hiệu quả của quá trình đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm cá nhân người học. Việc xác định rõ cơ chế tâm lý của từng SV có thể xem là “chìa khóa vàng” trong giáo dục nhân cách. Niềm tin và mục đích được xem là cơ chế tâm lý để xem xét những thuộc tính nhân cách. Niềm tin sẽ điều chỉnh các yếu tố tâm lý, hình thành những chức năng tâm lý. Nhu cầu là một động lực mạnh mẽ phát triển nhân cách (Nguyễn Ngọc Bích, 2000). Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn nó thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm hướng tới đối tượng (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang, 2011). Vì thế, nếu nhà trường cung cấp dịch vụ đào tạo thỏa mãn nhu cầu người học sẽ tạo cho họ thái độ tích cực, động cơ thúc đẩy và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong học tập, nghiên cứu và phát triển. Liệu có phải mọi SV khi được đáp ứng nhu cầu đều có được sự thỏa mãn giống nhau? Theo kết 80 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 quả nghiên cứu tâm lý, nhiều nhà tâm lý học cho rằng, mỗi cá thể đều có kiểu thần kinh khác nhau. Vì thế, mỗi cá nhân có một kiểu khí chất khác nhau nên có kiểu nhân cách khác nhau (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang, 2011). Tùy vào tiêu chí lựa chọn khi phân loại kiểu nhân cách mà ta có những kiểu nhân cách đặc trưng khác nhau. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào đối tượng SV có kiểu nhân cách hướng nội/hướng ngoại mà theo Eysenck đây là hai kiểu nhân cách đặc trưng nếu xét theo tính chất của phản ứng hành vi và mức độ ổn định/không ổn định của xúc cảm (Hans Eysenck theo Ngô Công Hoan, 2007). Chính đặc trưng của kiểu nhân cách SV cho ta kết quả cảm nhận riêng về chất lượng đào tạo của trường và mức độ dễ/khó chấp nhận khác nhau khi nhận sản phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp. Từ cảm nhận chủ quan của từng SV về chất lượng đào tạo của trường, có một số SV cảm thấy hài lòng/không hài lòng về sản phẩm/dịch vụ mà họ nhận được. 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nhóm nghiên cứu yếu tố về giới tính và tuổi. Một số nghiên cứu cho rằng không có sự khác biệt giữa kết quả đánh giá của SV khi xét đến yếu tố giới tính và tuổi sinh học (Aleamoni, L.M., 1998), (Young, S. & Rush, L.; Shaw, D., 2009), (Lally & Myhill, 1994 theo: Lê Văn Hảo, 2007), (Cashin, W.E., 1995). Nhưng có một số nghiên cứu lại cho rằng yếu tố giới tính có ảnh hưởng đến sự hài lòng (Hancock et al.,1992; Tatro, 1995 theo Young, S. & Rush, L.; Shaw, D., 2009) cho thấy SV nữ có xu hướng đánh giá giảng viên (GV) cao hơn SV nam. Có nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho rằng SV nhóm nữ kém hài lòng hơn khi xét đến yếu tố giới tính (Rienzi et al., 1993 theo Muhammad Nauman Abbasi, 2011). Nhóm nghiên cứu yếu tố sự trải nghiệm của SV khi học tại trường. Một số nghiên cứu cho rằng yếu tố năm học của SV không tác động đến kết quả đánh giá (Cashin, W.E., 1995); (Lally & Myhill, 1994 theo Lê Văn Hảo, 2007). Nhưng cũng có một số nghiên cứu lại cho rằng có sự khác biệt trong kết quả đánh giá khi xét đến yếu tố năm SV (Dalton, H & Denson, N., 2009); (Aleamoni, L. M., 1998); (Cisneros-Cohernour, E. J., 2001); (Muhammad Nauman Abbasi, 2011). Kết quả các nghiên cứu cho thấy các đánh giá cho điểm hài lòng tỉ lệ thuận với năm học của họ. An Giang University Nhóm nghiên cứu yếu tố về kết quả học tập. SV sẽ đánh giá thấp những GV cho điểm thấp (Crumbley, Henry & Kratchman, 2001 theo Dalton, H & Denson, N., 2009), cũng có nghiên cứu cho rằng GV cho điểm dễ dãi nhưng vẫn nhận được đánh giá thấp từ SV (Abrami, Dickens & Perry Leventhal, 1980 theo Mckeachie.W.J, 1997). Ngoài ra, có nghiên cứu cho rằng không có mối tương quan đáng kể giữa xu hướng đánh giá của GV và kết quả lấy ý kiến SV (Lally & Myhill, 1994 theo Lê Văn Hảo, 2007). Nhóm nghiên cứu về các yếu tố tác động khác đến sự hài lòng. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đo lường sự hài lòng của SV khi xem xét đánh giá ở các đặc điểm, các yếu tố hữu hình và vô hình. Dựa trên các nghiên cứu của Pascarella và Terenzini (1991) và Umbach và Porter (2002), có nhận định rằng sự phát triển trí tuệ và cá nhân là một trong những yếu tố quan trọng của sự hài lòng về đầu ra của các cơ sở giáo dục. Ewell (1989) đã quan sát mối tương quan nghịch về tác động giữa văn hóa tổ chức và kết quả học tập của SV (Ewell, 1989, Pascarella & Terenzini, 1991, Umbach & Porter, 2002 theo Muhammad Nauman Abbasi, 2011). Cashin, W.E. cho rằng GV dạy môn xã hội thường được SV đánh giá cao hơn môn học tự nhiên và GV dạy lớp ít sẽ được SV đánh giá cao hơn GV dạy lớp đông (Cashin, W.E., 1995). Mặt khác, Palacio et al. (2002) cho rằng sự kì vọng/mong đợi của SV có thể được hình thành trước khi họ bước chân vào trường đại học. Những hình ảnh của nhà trường sẽ tác động đến quyết định của họ khi lựa chọn ghi danh vào trường mà sau này ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của họ (Palacio et al., 2002 theo Muhammad Nauman Abbasi, 2011). Ngoài ra, trong khảo sát kết quả đầu ra của SV các trường, viện British Columbia năm 2003 cho thấy, các yếu tố về đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đến kết quả đánh giá sự hài lòng của SV. Chẳng hạn, nhóm nữ và nhóm lớn tuổi hài lòng ở mức độ cao. Ngoài ra, sự hài lòng của SV phụ thuộc nhiều vào kết quả xếp loại học lực. Đối với nhóm cựu SV thì kết quả xếp loại học lực và mức độ hài lòng có tương quan thuận với nhau. Đối với SV đang theo học thì mối tương quan này ít hơn. Điều này khá tương đồng khi xét đến các yếu tố về giới tính, tuổi tác, đặc điểm ngành học, vị trí của trường (BC College & Institute Student Outcome, 2003). Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây chỉ tập 81 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 An Giang University trung nhiều vào các yếu tố liên quan đến đặc điểm triển từ thấp đến cao. cá nhân SV như giới tính, tuổi, sự trải nghiệm của SV khi học tại trường (năm SV/SV năm thứ), kết quả học tập,… nhưng chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nhu cầu và kiểu nhân cách của SV đến sự hài lòng của họ trong quá trình học tập tại trường. 3. KHUNG LÝ THUYẾT 3.1 Quan hệ của các thuyết trong nghiên cứu hài lòng 3.1.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow chủ yếu tập trung xem xét các bậc nhu cầu cá nhân. Lý thuyết được xây dựng dựa trên các giả thuyết sau: (1) Nhu cầu là cơ sở để tạo động lực cá nhân, nhưng khi một nhu cầu được thoả mãn thì nó không còn là động lực quan trọng và nó sẽ nảy sinh một nhu cầu mới để thay thế cho nhu cầu cũ; (2) Nhu cầu bậc cao hơn chỉ xuất hiện khi nhu cầu bậc thấp hơn được thỏa mãn và có nhiều cách thỏa mãn bậc cao hơn so với nhu cầu ở bậc thấp; (3) Nhu cầu của phần lớn con người là phức tạp và phát Hình 1. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Bản chất của sự hài lòng là sự thỏa mãn về chất lượng sản phẩm hay dịch vụ mang lại cho khách hàng (SV). Tính vận động của nhu cầu khá tương đồng với trạng thái/cảm xúc hài lòng mang lại cảm giác hạnh phúc hay thái độ tích cực; còn cảm giác không hài lòng hay thái độ tiêu cực cho thấy sự bất mãn. Ngoài ra, đối tượng của tính phát triển của nhu cầu hoàn toàn giống với nhóm SV đặt ra yêu cầu cao. ng 1. Quan hệ của thuyết nhu cầu của A raha Maslow trong nghiên cứu hài lòng của SV Nhu cầu Nhu cầu an toàn Nhu cầu xã hội Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu tự khẳng định Thuyết của A raha Maslow Con người mong muốn được an toàn trong cuộc sống, công việc và trong quan hệ xã hội. Nhu cầu, mong muốn được giao lưu với bạn bè, gia đình, các nhu cầu giao tiếp khác. Con người được đối xử tôn trọng, tin cậy, được bình đẳng như mọi thành viên khác. Nhu cầu, mong muốn được sáng tạo, được thể hiện tài năng bản thân mình trước mọi người và được ghi nhận. Nghiên cứu hài lòng của SV Môi trường nhà trường tạo cho SV cảm giác an tâm chứ không phải đe dọa hay áp đặt. SV cần được đảm bảo điều kiện an toàn trong nhà trường, cụ thể: Tình hình an ninh trong nhà trường; Khu phòng học, khu nhà vệ sinh, khu ký túc xá,… đạt yêu cầu về an toàn; Chế độ bảo hiểm cho SV, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho SV. Hoạt động phong trào (văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao), câu lạc bộ, đội nhóm; SV được tạo cơ hội tham gia vào quá trình giảng dạy – học tập; SV được giao lưu trực tiếp với Hiệu trưởng, Phòng ban, Ban Chủ nhiệm Khoa để phản hồi các hoạt động của nhà trường. Khen ngợi kịp thời khi SV hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập; Lắng nghe, tôn trọng ý kiến SV; Chất lượng đội ngũ cán bộ phục vụ cho SV. Khuyến khích SV tự chủ trong học tập, nghiên cứu; Khích lệ khả năng sáng tạo, tổng hợp vấn đề và ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. 82 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 3.1.2 Thuyết hai yếu tố của rederick er berrg Nhà tâm lý học Frederick Herzberrg cho rằng không phải nhu cầu nào cũng đóng vai trò là động cơ thúc đẩy. Có những yếu tố tạo ra sự không thỏa mãn (tạo sự hài lòng không tích cực) và những nhu cầu này khi được thoả mãn không tạo động cơ thúc đẩy mà chỉ là yếu tố duy trì/yếu tố hợp vệ sinh/yếu tố bảo vệ sức khỏe (Hygiene factors). Ngoài ra, có yếu tố thỏa mãn (tạo ra sự hài lòng tích cực) và những nhu cầu này nếu được đáp ứng sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy (Motivation) (Frederick Herzberrg theo Nguyễn Thơ Sinh, 2008). Mô hình thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberrg: M I TRƯỜNG LÀM VI C Yếu tố nhu cầu NỘI UNG C NG VI C Yếu tố nhu cầu tạo sự duy trì An Giang University Hình 2. M hình thuyết hai yếu tố của r ric Herzberrg Quan hệ của thuyết hai yếu tố trong nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của SV: Mô hình nghiên cứu chỉ rõ những ảnh hưởng của môi trường công việc đến cá nhân. Điều này khá tương đồng nếu xem xét trên quan điểm xem công ty/cơ quan là nơi đào tạo và môi trường công việc là môi trường học tập của SV. Thuyết cũng đề cao vai trò của môi trường trong quá trình đáp ứng nhu cầu cho đối tượng lao động. Học thuyết đã chỉ ra hai yếu tố: yếu tố duy trì (Hygiene factors) và yếu tố tạo động cơ (Motivation). Nội dung chính của hai yếu tố này có thể được vận dụng giải thích trong nghiên cứu đánh giá hài lòng của SV. Mức độ trạng thái cảm giác của SV về khả năng đáp ứng của nhà trường so với kì vọng của chính SV - một cảm giác thỏa mãn hay thái độ tích cực cho thấy sự hài lòng, trong khi một cảm giác không thỏa mãn hay thái độ không tích cực cho thấy sự không hài lòng. ng 2. Quan hệ của thuyết hai yếu tố trong nghiên cứu hài lòng của SV Yếu tố nhu cầu Thuyết của r ric H r rrg Nghiên cứu ánh giá hài lòng của SV Tạo sự duy trì Tạo động cơ Công ty Chính sách và cách quản lý của công ty Nhà quản lý trực tiếp Điều kiện làm việc Các mối liên hệ cá nhân Lương Chức vụ Sự an toàn Sự thành đạt Sự công nhận, thừa nhận Sự thăng tiến Tính hấp dẫn của công việc CSĐT/trường đại học Chính sách và cách quản lý của trường Khoa/Lớp Điều kiện học tập Các mối liên hệ cá nhân Học bổng, chế độ hỗ trợ Ban cán sự lớp Sự an toàn trong nhà trường Cơ hội việc làm Bằng cấp Khả năng nghiên cứu, học tập cao hơn (sau đại học,...) Say mê học thuật, nghiên cứu 3.1.3 Thuyết hành vi của E.C.Tolman Theo E.C.Tolman, yếu tố nội sinh là bất kỳ thể nghiệm nào bên trong của cơ thể, những cái không thể quan sát một cách khách quan được. Chúng tôi vận dụng học thuyết tâm lí của E.C.Tolman trong nghiên cứu đánh giá hài lòng của SV. Như vậy, sự hài lòng của SV phụ thuộc vào đặc điểm của môi trường và đặc trưng từng cá thể đến hình thành quá trình hình thành tâm lí của 83 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 An Giang University SV (E.C.Tolman theo Phan Trọng Ngọ, 2003). M I TRƯỜNG CÁ THỂ TÂM LÍ Ho t ng ào t o Kiểu nhân cách sinh Hài lòng/Kh ng hài lòng viên, nhu cầu Hình 3. Quá trình hình thành sự hài lòng SV ối v i ho t ng ào t o i h c Đặc điểm môi trường ảnh hưởng đến cá thể (SV) đó chính là môi trường học tập trong nhà trường, bao gồm các hoạt động đào tạo: chương trình, giảng viên, hoạt động tổ chức đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ hỗ trợ, mối quan hệ giữa mọi người trong trường, trong lớp… Đặc trưng cá thể có thể là các đặc điểm về kiểu nhân cách SV, nhu cầu bản thân, giới tính, tuổi,… Chính đặc trưng của từng cá thể cho ta kết quả cảm nhận riêng về chất lượng đào tạo của trường. Bởi vì, với từng cá thể thì mức độ dễ/khó chấp nhận của họ cũng khác nhau khi nhận sản phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp. Tâm lí cá thể ở đây có thể hiểu đó chính là quá trình hình thành sự hài lòng của SV khi học tại trường. Kết quả của quá trình này phụ thuộc vào đặc điểm của môi trường học tập, nhu cầu và kiểu nhân cách của từng SV. Trong nghiên cứu này, yếu tố nội sinh chỉ tập trung vào hai khía cạnh là: (1) nhu cầu và (2) kiểu nhân cách (hướng nội/hướng ngoại), bởi lẽ tính thuận tiện của hai yếu tố này trong tìm hiểu đánh giá sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo. 3.2 M hình lý thuyết Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Khi con người đã có thể sinh tồn thì họ nảy sinh khát khao tìm kiếm tri thức nên nhu cầu được học tập xuất hiện. Khi SV học tập tại trường họ mong muốn có môi trường thuận lợi để có cơ hội phát triển. Môi trường đó phải thật sự an toàn, lành mạnh, nhân văn. Trong mối quan hệ giữa thầy – trò được thực hiện căn cứ vào chương trình đào tạo, cùng với quá trình tổ chức đào tạo, trong điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi với chất lượng dịch vụ tốt nhất sẽ tạo cho SV tâm lí yên tâm học tập, nghiên cứu. Theo chúng tôi quan niệm, nhu cầu của SV là “những kì vọng/mong đợi của SV (chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu học tập, tổ chức đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ hỗ trợ) về điều kiện và hoạt động đào tạo của trường để họ có thể trở thành người có năng lực trong lĩnh vực được đào tạo. Chính sự thỏa mãn những kì vọng/mong đợi (nhu cầu) của SV dưới sự định hướng/giáo dục của nhà trường sẽ đem đến cho họ sự hài lòng, cao hơn nữa tạo động cơ để họ phấn đấu trong học tập, nghiên cứu để phát triển”. Nhu cầu quá trình (1) căn cứ vào thuyết Abraham Maslow. Khi môi trường bên trong trường đại học đáp ứng được nhu cầu SV quá trình (11) thì họ sẽ thỏa mãn, còn ngược lại không thỏa mãn quá trình (12) . Chính sự không thỏa mãn nhu cầu sẽ làm cho SV cảm thấy không hài lòng về sản phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp. Khi SV thỏa mãn nhu cầu quá trình (11) thì sẽ xuất hiện hai trạng thái tâm lí: nếu nhà trường đáp ứng đầy đủ các yếu tố tạo sự duy trì (nhu cầu an toàn và nhu cầu xã hội) quá trình (11a) thì SV cảm thấy hài lòng quá trình (11a1) , tuy nhiên sự hài lòng này không mang động cơ thúc đẩy hoạt động học tập. Chỉ những nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình quá trình (11b) được đáp ứng thì sự thỏa mãn mới tạo được động cơ giúp SV say mê học thuật, nghiên cứu quá trình (11b1) . Như vậy có phải mọi SV khi được đáp ứng nhu cầu đều có sự thỏa mãn giống nhau Điều đó hoàn toàn không, bởi lẽ mỗi SV đều có ý kiến chủ quan trong đánh giá, nhận định vấn đề. Mỗi SV là cá thể riêng l mang đặc trưng riêng quyết định tính cách và nhu cầu khác nhau. Chính đặc trưng của từng cá thể về tính cách quá trình (2) cho ta kết quả cảm nhận riêng về chất lượng đào tạo của trường. Bởi vì, với mỗi SV, mức độ chấp nhận của họ cũng khác nhau khi nhận sản phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp. Chính cảm nhận chủ quan của từng SV về chất lượng đào tạo của trường mà 84 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 An Giang University có một số SV cảm thấy hài lòng quá trình (21) (22)]. và một số SV cảm thấy không hài lòng quá trình (21) HÀI LÒNG (111) (22) KH NG HÀI LÒNG (122) Mức / h ch p nh n s n ph / ch v nhà tr ng cung c p Thỏa Kh ng ãn thỏa ãn Đáp ứng Kh ng áp ứng (11) (12) Hướng nội – Hướng ngoại KIỂU NHU CẦU NHÂN CÁCH SV (2) (1) ĐẶC ĐIỂM SINH VIÊN Hình 4. M hình lý thuyết 85 Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91 An Giang University 3.3 M hình các gi thuyết nghiên cứu